| Statistics | User Listing Forums | Calendars | Albums | Quotes
You are logged in as a guest. ( logon | register )


Random quote: Yêu em mấy núi cũng trèo mấy sông cũng lội thấy nghèo lại thôi
- (Added by: tueng)

Linh tinh
Moderators: admin

Jump to page : 1
Now viewing page 1 [25 messages per page]
   Trò Chuyện Với Nhau-> Trao Đổi Linh TinhMessage format
 
nguyentaithanh
Posted 2017-03-20 1:52 PM (#123366)
Subject: Linh tinh



Expert

Posts: 4540
2000200050025
Location: Houston, TX

Thành ghi nhận 1 vài cái linh tinh trong cuộc sống.

 Ngũ thập tri thiên mệnh: câu này không đúng cho người nông dân hay thành phần lao động chân tay và với xã hội Vn có thể ảnh hưởng xấu đền thế hệ con cháu.

Vô độc bất trượng phu. Chính bản thân Thành không hiểu thế nào là " trượng phu"

... suy diễn như vậy thì những câu tục ngữ trên từ từ chết?

cũng là khui! 

Top of the page Bottom of the page
nguyentaithanh
Posted 2017-03-22 1:18 PM (#123374 - in reply to #123366)
Subject: RE: Linh tinh



Expert

Posts: 4540
2000200050025
Location: Houston, TX

Risky business: forecast 

Tháng 3 ở Toronto hiên nay trừ 12 độ C.

Federal reserve (Us) rate is 1 %

Bank rate (Central Bank of Canada) is .5 % (.005)

Term deposit, bond, mortgage back interest ... đều dưa vào bank rate hay federal rate để điều chỉnh.

5-10 năm về trước, lúc nào bank rate (canada) cũng cao hơn bank rate của Mỹ từ 1-2 %.

Prime rate = bank rate + 1.75 % (canada, Mỹ + 3 %). 



Edited by nguyentaithanh 2017-03-25 1:50 PM
Top of the page Bottom of the page
nguyentaithanh
Posted 2017-03-23 9:21 PM (#123375 - in reply to #123366)
Subject: RE: Linh tinh



Expert

Posts: 4540
2000200050025
Location: Houston, TX

Chính trị 

Khi ra tranh cử Trudeau hứa deficit không quá 10 B và sẽ cân bằng ngân sách 2019.

Tài khoá vừa rồi thì deficit 21 B, và dự tính cho tax year 2017 là 28 B chưa có kế hoạch cân bằng ngân sách. 

Top of the page Bottom of the page
nguyentaithanh
Posted 2017-03-25 1:44 PM (#123377 - in reply to #123366)
Subject: RE: Linh tinh



Expert

Posts: 4540
2000200050025
Location: Houston, TX

Làm người tốt, làm việc thiện khó hơn so với làm việc bình thường, làm người xâu, ích kỷ.

Thành đi làm ở Hotel, tháy bồi phòng ăn cắp đồ chỉ nói với nó là trả lại, và không báo cáo. Sau này nó cùng với những người nói cùng thứ tiếng với nó làm mọi cách để Thành quit.

Thành cám ơn nó vì Thành có cơ hội tìm việc làm ở nơi khác và rút kinh nghiệm thà mình phụ người đừng để bị người phụ.

 

Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2017-05-05 9:29 PM (#123409 - in reply to #123377)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Tình cờ đọc được bài viết nầy: http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/kho-tranh-lam-n...

Theo đó,
- Trong bối cảnh kinh tế VN, phát triển nhiệt điện than là bắt buộc (!?)
- VN sẽ tăng số lượng nhà máy nhiệt điện đốt than lên 3 lần trong những năm sắp tới
- VN sẽ trông cậy vào công nghệ cao để vận hành các nhà máy nhiệt điện than


Lời trích từ một chuyên viên:
" ... thứ nhất, suất đầu tư cao (nhất là điện gió); chính sách giá mua điện chưa đủ hấp dẫn khi các nhà đầu tư ngoài ngành điện chỉ ưu tiên lợi nhuận. Thứ hai, hiệu suất khai thác thấp so với các nguồn điện khác do phụ thuộc vào yếu tố thời tiết. Do đó cần phải đầu tư gấp 3 - 4 lần công suất đặt so với nhiệt điện than. Đồng thời đầu tư cho hệ thống dự phòng nhằm bổ sung nguồn năng lượng thiếu hụt khi điều kiện thời tiết không thuận lợi."

Lời Bàn Của Tui

Hmm, năm nay là năm 2017.

Giá dầu là tròm trèm 50 đô một thùng; giá khí đốt là cỡ 3 đô mỗi 1 triệu Btu; Giá điện từ các nguồn năng lượng mặt trời đang ngang ngửa với giá từ các nguồn khác. Trong hai, ba năm vừa rồi các công ty sản xuất nhiên liệu, năng lượng không kiếm được tiền vì giá năng lượng rẻ.

Công nghệ sử lý than thành than sạch đã được biết đến từ ... lâu lắm rồi và công nghệ cao đương thời khi đốt than để sản xuất điện cũng không có gì đáng gọi là cao hay đem lại lợi nhuận so với sản xuất điện từ các nguồn khác.

Các quốc gia tiên tiến đã không còn phát triển điện than nữa mà họ chỉ đợi về hưu các nhà máy điện than khi chúng tới hạn. Hai quốc gia đông dân nhất hành tinh là Ấn Độ và Trung Quốc đang tiến hành những chuyển đổi ngoạn mục trong sản xuất năng lượng. Ấn Độ đang có chương trình 500 tỉ đô la để xây dựng ngành năng lượng dựa trên các công nghệ khác công nghệ đốt than đặc biệt là năng lượng mặt trời, gió, hạt nhân. Trung Quốc thì đang tăng cường nhập khẩu khí đốt và tốc độ phát triển điện than đang chậm lại đáng kể. Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới về việc phát triển điện từ mặt trời.

Các quốc gia tiên tiến cũng không còn mặn mà với năng lượng hạt nhân. Công ty công nghệ hạt nhân Westinghouse vừa mới phá sản. Nhân lực trong ngành năng lượng hạt nhân càng lúc càng ít. Chi phí để khởi động nhà máy điện hạt nhân hay đóng cửa nhà máy càng lúc càng tăng.

Các công ty dầu truyền thống như Exxon Mobile, Chevron, Shell, Total ... đang dịch chuyển qua ... kinh doanh khí đốt. Các tàu nổi khí hóa lỏng đóng bởi Đại Hàn đang được mua ào ào để vận chuyển khí hóa lỏng xuôi ngược thế giới. Khí đốt đang được sản xuất dồi dào và xuất khẩu ào ào. Đốt khí để sản xuất điện là "trung hòa" vì khí methane là một khí làm nóng trái đất.

Năm 2016 đánh dấu bước ngoặc: điện mặt trời rẻ như điện từ các nguồn khác. Nơi nào đã xây nhà máy điện mặt trời hay điện gió đều có cảm thấy phấn khởi vì ... chi phí bảo trì không đáng kể trong khi tiền cứ chảy vào túi khi điện cứ được sản xuất/bán mà không gây ô nhiễm môi trường hay biến động bởi giá nhiên liệu đầu vào.

Hah, chiến lược năng lượng là chiến lược sống còn của mỗi quốc gia. Tình trạng hiện thời do đã được từ từ tạo lập từ nhiều năm trước. Trong kinh doanh người ta có cái gọi là "giá đã chìm" (sunk cost) - chi phí đã tính rồi không kể lễ nữa. Cái đáng kể là những thứ sắp chi, sắp xảy ra vì chúng sẽ giúp người ta duy trì khả năng cạnh tranh và giữ chi phí ngày càng rẻ. (Khi chi phí không còn rẻ nữa thì người ta thải loại "chúng" đi !!!)

VN đang nhìn về đâu vậy?



Edited by ntd 2017-05-08 10:10 AM
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2017-06-25 1:01 PM (#123452 - in reply to #123409)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Tình cờ đọc được bài viết nầy: http://kinhdoanh.vnexpress.net/tong-thuat/vi-mo/bo-truong-nong-nghi...

Theo đó,
- Trong bối cảnh kinh tế VN, được mùa mất giá vẫn đang là nỗi đau đầu (???)
- Thảo luận về vai trò của nhà nước (?) trong quản lý "kinh tế" nông nghiệp
- VN đã và đang sản xuất thừa vài nông sản và thị trường trong nước không hấp thụ được số thặng dư


Lời trích từ bài báo:
... Chúng tôi cũng hiểu đó là trách nhiệm của ngành nông nghiệp, chứ không phải ai khác, nhưng là một đoàn tàu phát triển mới làm được một khoang nên mọi việc phải từng bước", ông Cường nói. Cụ thể, trong ba khâu sản xuất, chế biến và tổ chức, mở cửa thị trường thì ngành mới làm được khâu đầu tiên, còn lại 2 khâu sau rất yếu, rất kém. Hệ quả là “khủng hoảng thừa” thịt lợn vào tháng 4 vừa qua. ...

... Vai trò của Bộ Công Thương ở đâu khi để khâu trung gian bán lẻ ăn gian quá nhiều, giá thịt hơi 20.000 đồng mà siêu thị vẫn bán 80.000 đồng một kg? ...

... xuyên suốt các câu trả lời về quy hoạch, giải cứu lợn của Bộ trưởng vắng bóng vai trò quản lý Nhà nước ...

Lời Bàn Của Tui

Được Mùa Mất Giá

Hah, cái nầy thì nó cũ lắm rồi, từ khi con người mới học mua bán trao đổi hàng hóa đó mà. Khi một món đồ không có người cần thì cho không người ta cũng không thèm lấy. Khi nào người sản xuất chấp nhận sự đương nhiên của cái chuyện đương nhiên nầy thì miễn may người ta mới có thể đi tiếp bước thứ hai một cách có "năng suất" (productively! chữ nầy dùng cố ý vì nó thích hợp)

Kinh Tế Nông Nghiệp - Các Hiểu Biết Cần Có

- Nông nghiệp là sản xuất thực phẩm/hàng hóa từ đất, nước, phân, giống. Và thời tiết ảnh hưởng cực lớn đến sản xuất nông nghiệp
- So với những ngành kinh tế khác thì kinh tế nông nghiệp có mức độ may rủi (risk) cao hơn rất nhiều so với các ngành kinh tế khác vì:
+ Thời tiết biến động
+ Nhu cầu tiêu thụ biến động nhanh (do khẩu vị, phong trào, cạnh tranh, ... )
+ Tính chất không để được lâu/biến chất của thực phẩm
- Có những thuộc tính:
+ Người ta có thể chọn loại thực phẩm nầy hay khác dựa vào giá cả (elastic)
+ Người ta không thể tiêu thụ quá nhiều hay quá ít các thực phẩm cần thiết và thông dụng (inelastic)
+ Người ta cũng không thể trữ thực phẩm quá lâu vì chi phí để dự trữ sẽ tăng lên trong khi phẩm chất (giá trị) của thực phẩm sẽ bị giảm xuống - Tức là tồn tại một điểm mà chi phí dự trữ (hay đầu cơ !) sẽ vượt quá giá trị (hay giá bán !) của thực phẩm
+ Vì thực phẩm cần thiết cho sự tồn tại tức thì (instant) của con người và nhanh biến chất nên biến động giá cả luôn mạnh và nhanh khi có biến động cung cầu
- Từ các đặc tính trên, nên hiện tượng "Được Mùa Mất Giá" là biểu hiện đúc kết/tóm tắt của kinh tế nông nghiệp
- Vì nó phức tạp và biến động hơn các ngành khác và nhiều khi các biến động ngoài sự tiên liệu của con người (thiên tai, chiến tranh, bệnh tật ...) nên không có đối sách vạn năng nào. Cái người ta có thể làm được là giảm thiểu (mitigate) những biến động mà con người có thể kiểm soát được, và giảm nhẹ ảnh hưởng của những biến động

Trách Nhiệm Nào Phải Của Riêng Ai hay Làm Sao Để Giảm Biến Động

Kinh tế nông nghiệp bắt đầu từ lúc bỏ hạt xuống gieo trồng, và kết thúc lúc thực phẩm chui vào bao tử con người. Không có ai có thể bảo người ta phải nuôi bao nhiêu con heo, hay không có ai có thể bảo người ta phải ăn bao nhiêu ký thịt heo mỗi buổi ăn. Nếu không thể sai khiến người ta ở điểm khởi đầu và điểm kết thúc, thì không thể gán trách nhiệm cho ai được và cũng không ai tự dưng đi nhận trách nhiệm của điều không thể lãnh trách nhiệm dù muốn

Hiểu rõ những thuộc tính vốn có của nông sản/thực phẩm như tính co dãn/không co giãn của tiêu thụ thực phẩm, và những biến động nhanh và mạnh của giá cả theo cung cầu thì người ta có thể giảm nhẹ những biến động mà họ có thể kiểm soát được.

Những biện pháp:
- Làm cho chuỗi cung cấp (supply chain) của những nông sản trở nên rõ ràng (high visibility)
+ Người ta bỏ nhiều công của để ghi nhận những số liệu chính xác có thể của gieo trồng, phân phối, tiêu thụ
+ Người ta tiêu chuẩn hóa các sản phẩm
- Tạo những công cụ điều tiết cung cầu qua các chính sách vĩ mô và làm cho chúng được biết trước bởi các người tham gia

Hmm, nói thì dễ nhưng thi hành thì ... :
- Cấp dưới hay lừa cấp trên, báo cáo hay để được thành tích. Các chuỗi cung ứng nông sản tự nó đã không rõ; Người ta đã không làm cho nó sáng ra mà còn làm đục xà ngầu thêm vì những con số gian lận
- Người ta có thì mình cũng có. Và nếu chỉ có ở đầu vào mà không có ở đầu ra thì sẽ làm cho các mô hình giá cả/cung cầu sai lệch mà không dự đoán được
- Công tác thu lượm số liệu là không thể được vì người ta không biết phải thu lượm cái gì, xử lý ra sao, sử dụng thế nào,

Chuyện Ngoài Lề

Vài năm trước, tui có dịp theo dõi Truyền Hình VN, không biết đài nào. Mà đài nào cũng không có gì quan trọng Họ hay có cái mục báo cáo thị trường (cứ khoảng 1/2 hay 2 giờ ?) và khi đó họ báo cáo "ngày dd/mm, giá gạo ở chợ ... , giá trứng vịt ... , giá thịt ... , giá tập giấy trắng ...,

Tui có hàng đống câu hỏi:
- Ai đi lấy số liệu?
- Lấy những số liệu biến động hay không biến động như vậy dựa trên tiêu chuẩn nào?
- Lấy những số liệu biến động hay không biến động định kỳ ngắn như vậy để làm gì?
- Nếu cái đài truyền hình nào đó làm vậy, các cơ quan "quan trọng" khác có làm như vậy không?

Cùng Ăn Cùng Chịu! hay Làm Sao Để Giảm Nhẹ Tác Động

Kinh tế nông nghiệp vốn dĩ không ổn định nên người ta cần phải giảm những biến động có thể thấy được, hiểu được, tác động được.

Người ta tìm cách giảm nhẹ tác động của các biến động để sức tác động sẽ không mạnh lên nông dân, người phân phối, công ty chế biến, người tiêu dùng ... khi biến động xảy ra

- Cố gắng bán cho nhiều người khách hàng để cái năng lực gọi giá (pricing power) không bị suy giảm khi một khách hàng từ chối không mua
- Mở rộng các ngành chế biến để chúng đóng vai trò của một cái đệm (buffer), hấp thụ sản phẩm dư thừa đột biến (khi được mùa thì giá rẻ; công ty chế biến sẽ mua thêm vì giá rẻ để chế biến sang sản phẩm trao đổi - alternative - góp phần ổn định giá cả ...)
- Cố gắng tạo một hệ thống quản lý phân phối "trong suốt" (transparent), đáp ứng (responsive) để khi có biến động cung cầu thì người ta biết biến động từ đâu đến, vì lý do gì, và toàn hệ thống có thể đáp trả/ứng cứu kịp lúc trước khi giá cả biến động - Hmm, cái nầy là nói cho public good - Còn ai làm ăn theo kiểu "đục nước béo cò" thì hoàn toàn không áp dụng
- Xây dựng một cái thị trường trao đổi hàng hóa (commodity exchange) để san sẻ cái rủi ra càng rộng càng tốt vì khi đó tác động trên một cá nhân sẽ giảm đi nhiều

Chuyện Ngoài Lề

Có một đại công ty bán lẻ. Nó có hệ thống phân phối cực tốt. Ví dụ có một cửa hàng đột ngột có một số bán nhảy vọt và trong kho đang cạn hàng. Một xe vận tải nào đó đang trên đường tới một cửa hàng nhất định theo lộ trình định trước, sẽ được lệnh thay đổi lộ trình và đi đến một điểm giữa nào đó để gặp một chiếc xe khác tới móc nối cái container hàng và đi thẳng đến nhà kho cần thiết trong một khoảng đường ngắn nhất và thời gian nhanh nhất.

Chuyện Kinh Tế Nông Nghiệp Của Mỹ

Nhà nước Mỹ chỉ can thiệp vào kinh tế nông nghiệp qua các chính sách vĩ mô và bộ Nông Nghiệp Mỹ có các kho dữ liệu đáng tin cậy về sản lượng sản xuất, nhu cầu tiêu thụ ... Người vận hành và tham gia kinh tế nông nghiệp là ... các nông dân, công ty nông nghiệp, công ty chế biến thực phẩm, người tiêu dùng.

Nhà nước không có quản lý cái chuỗi cung ứng. Nhà nước chỉ giúp làm cho cái chuỗi được thấy rõ ràng cho mọi người (không chỉ người Mỹ mà cả thế giới). Nhưng các công ty quản lý chuỗi cung ứng của họ rất tốt. Người nông dân/công ty nông nghiệp tự do trồng cái họ muốn trên mảnh đất của họ. Họ tự tìm hiểu thông tin minh bạch, rõ ràng và khá chính xác để đi đến quyết định. Họ tự tìm cách "bảo hiểm" số thu của vụ thu hoạch. Và họ tự gánh tránh nhiệm nếu thất thu.

Nhà nước không lãnh trách nhiệm về sự thay đổi giá cả hay sự thua lỗ của những người tham gia kinh tế nông nghiệp. Nhưng nhà nước chịu trách nhiệm về những thông tin cần thiết và có ích cho kinh tế nông nghiệp.


Kết Luận

Sự "được mùa mất giá" là chuyện đương nhiên trong kinh tế nông nghiệp. Không nên mất thời giờ để tiếp tục tìm hiểu hay lý luận về cái quan hệ đó nữa. Cũng không nên mất thời giờ để tìm kiếm cái cách để được mùa mà không mất giá tại vì nó là hầu như không thể.

Trong sản xuất/kinh doanh "lớn", đặc biệt là trong sản xuất/kinh doanh nông nghiệp, người sản xuất không phải là kẻ đi buôn. (Câu nầy không phải là một lời nói suông mà là một đúc kết cho cả một thực tế kinh doanh cần có !)

Cái người ta nên làm là giảm thiểu các biến động có thể kiểm soát được và tạo cơ chế để giảm nhẹ tác động của các biến động



Edited by ntd 2017-07-26 1:16 AM
Top of the page Bottom of the page
nguyentaithanh
Posted 2017-07-25 11:02 AM (#123496 - in reply to #123366)
Subject: RE: Linh tinh



Expert

Posts: 4540
2000200050025
Location: Houston, TX

Dung, 1 cad = 80 cents us

82 cents ba'n duoc roi. 

Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2017-07-30 11:15 AM (#123501 - in reply to #123452)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Lời Nói Đầu Hay Bối Cảnh

Nhân tiện nước Mỹ đang trải qua cơn ác mộng để lựa chọn con đường cho ngành chăm sóc y tế chiếm 1/6 nền kinh tế quốc gia.
Sự việc nầy đã được tranh luận gay gắt ở Mỹ từ thời nảo thời nào vì một bộ phận lớn người tin rằng cơ chế thị trường tự do là vạn năng sẽ giúp bảo hiểm y tế hoạt động tốt hơn hết; một bộ phận lớn khác thì tin rằng cơ chế "Y Tế Xã Hội Hóa" (Socialized Health Care) không thích hợp với nước Mỹ vì nó sẽ không hiệu quả/nó sẽ làm cho những người lười biếng cũng sẽ được hưởng ké ...; Bộ phận khác thì muốn có chăm sóc y tế toàn dân như các quốc gia tiên tiến khác ...

Vài Con Số/Sự Kiện:
- Mỹ chi nhiều gấp đôi quốc gia chi nhiều thứ nhì
- Ngành y khoa Mỹ thường đứng đầu thế giới về mặt nghiên cứu
- Tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao hơn so với các quốc gia tiên tiến khác
- Tuổi thọ của dân Mỹ thấp hơn dân ở các quốc gia khác


- Hầu như các quốc gia tiên tiến đều có cơ chế nhà nước trả tiền, dân đóng thuế

Những Hiểu Biết Tiền Đề

Ba khái niệm: 1) Thị Trường Tự Do, 2) Y Tế, 3) Bảo Hiểm,

Thị Trường Tự Do (liên quan đến Y Tế và Bảo Hiểm và Bảo Hiểm Y Tế)

Cái nầy thì xưa như trái đất nên tóm tắt ở đây những điểm chính:
- Hàng hóa tự do lưu chuyển theo luật cung cầu/giá cả, người cung cấp và người tiêu thụ rất nhiều và họ có đầy đủ thông tin về biến động cung cầu/giá cả
- Dịch vụ phần nào cũng theo luật cung cầu/giá cả nhưng dịch vụ có nhiều thứ làm cho nó không tuân theo luật cung cầu giá cả tí nào:
+ Dịch vụ thuộc loại không "co giãn được" (inelastic) (không thể trữ được/không thể tiêu
thụ thêm nữa dù giá cỏ rẻ hơn nhiều )
+ Khi dịch vụ được cần, thì giá cung cấp có thể nhảy vọt và khi dịch vụ không được cần, thì
giá cung cấp có thể xuống thấp
+ ...

Y Tế

Y tế là dịch vụ mà lại là loại dịch vụ cực đặc biệt vì nó liên quan đến sức khỏe người ta - Những điều dưới đây không hoàn toàn tuyệt đối
- Không ai muốn bệnh
- Khi bệnh thì không ai muốn chết
- Không ai muốn "hưởng lợi" hay chiếm thuận lợi - đến phòng mạch bác sĩ vì những chuyện nhỏ nhặt, hay đến phòng mạch bác sĩ vì bác sĩ hạ giá (Các dịch vụ khác thì có thể thu hút được khách thêm nếu hạ giá)

Bảo Hiểm

Bảo hiểm là sự chung góp của một cộng đồng để đền bù cho cá nhân bị thiệt hại. Nó có lẽ không theo cơ chế thị trường, hay thị trường tự do.
- Để việc bảo hiểm hiệu quả nó phải có đủ nguồn lực lúc được cần - tức là nó không được phép lổ. Nếu lổ thì cái lổ sẽ không nên làm xụm người cung cấp. Dù lổ nó cũng không được phép vi phạm hợp đồng; nếu những điều trên không được tuân thủ, thì công ty bảo hiểm sẽ ra phá sản nhanh, cá nhân bị thiệt hại có lẽ không phục hồi được, và hệ thống sẽ bị xụp đổ chung cuộc
- Nó không theo những qui luật cung cầu/giá cả bình thường. Nó kinh doanh trên xui xẻo, dự đoán tương lai - tức là xác suất của sự việc xảy ra. Vì thế công cụ của ngành bảo hiểm chính là những số liệu thống kê đầy đủ, để giúp nó biết về tình trạng quá khứ và hiện tại, để biết những tương tác của các yếu tố liên quan, biết những hệ lụy có thể khi những yếu tố tương tác (stochastic modeling), dùng những thuật toán, mô hình thống kê.

Bàn Luận

Phần 1: Nguyên tắc chung hay lý thuyết

Quy Luật Cung Cầu Không Áp Dụng Hay "Không Thể Muốn Bệnh Để Được Hưởng Lợi"

Bệnh là một tai nạn không mong muốn và không lường trước được. Lẽ thông thường (common sense), khi bị bệnh, nếu nhẹ thì người ta không muốn đi bác sĩ/bệnh viện vì nó sẽ mất thời gian ảnh hưởng đến các "utility" khác của mỗi cá nhân. Còn khi bệnh nặng/có thể chết thì người ta muốn được chữa trị với bất cứ giá nào (tương đối thôi nhe !)

Bác sĩ, y tá không thể có ngay trong ngày một ngày hai. Bệnh viện có hạ giá thì người bệnh cũng không tới thêm. Người tham gia trong thị trường cũng không có đầy đủ thông tin/hiểu biết về thị trường khám chữa bệnh (ai cung cấp/bao nhiêu/giá cả ...) Nguồn cung cấp (supply) không rất nhiều, nguồn tiêu thụ (demand) không rất nhiều.

(Chậc chậc, nhưng nếu khám/trị bệnh miễn phí thì lại là chuyện khác: người ta quan sát các đoàn y tế thiện nguyện khám chữa bệnh cho hàng dài những người "đứng hàng giờ" để được khám chữa bệnh ! - Cái nầy không được bàn ở đây )

Những quan hệ/đặc tính/hành xử kể trên không giống quan hệ cung cầu/giá cả như các loại hàng hóa khác. Và theo đó, cơ chế thị trường tự do cho dịch vụ y tế có lẽ sẽ không áp dụng được.

Nhắc lại bảo hiểm là tính toán trên may rủi (uncertainty) và tương lai, hoặc dự đoán được (dựa vào quá khứ, qui luật số nhiều, cùng cách hành xử/phản ứng) hoặc không (random events). Vì thế, cơ chế thị trường tự do cũng không có áp dụng được vì giá không có thay đổi được trong thời gian ngắn/thậm chí thời gian dài khi sự việc "tương lai" còn chưa xảy ra và vì độ trễ của các yếu tố ảnh hưởng đến cân bằng thị trường

Phần 2: Ngành Y Tế, Bảo Hiểm, Bảo Hiểm Y tế trong áp dụng thực tế

(Lúc khác viết tiếp)


Edited by ntd 2017-09-14 4:23 PM
Top of the page Bottom of the page
nguyentaithanh
Posted 2017-08-04 8:50 AM (#123516 - in reply to #123366)
Subject: RE: Linh tinh



Expert

Posts: 4540
2000200050025
Location: Houston, TX

Theo thống kê (không nhớ năm) Mỹ chi 10 lần nhiều hơn trên 1 đầu người so với Canada.

Tuổi thọ trung bình của người Canada cao hơn Mỹ.

Y tế + bảo hiễm (nhân thọ, y tế, ...) đem lại lời và an toàn cho giới tư bản tài chính Mỹ.

Hôm nay Thành đi MRI lần thứ 3 sau 1st Chemo + Rad sẽ đi MRI thêm 1 lần nửa.

Nếu không có gì thay đổi thì sau 5 tuần Chemo mới có quyết định ngày giải phẩu. 

Bs Chính hay Bs Hoàng làm ơn cho giá của những dịch vụ trên cho người không có bảo hiểm hoặc người có bảo hiểm nhưng income khoảng 50K. 

Khui thôi. 

Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2017-09-09 7:43 PM (#123591 - in reply to #123516)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Đi Taxi Nào ?

Hôm nay đọc được cái nầy:

https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/mot-xe-chay-ube...

Theo đó: sự hoạt động của taxi Uber hay Grab
- Các chuyên gia VN cho rằng công nghệ giúp dẫn đến tối ưu hóa nguồn lực và tăng hiệu quả hoat động
- Tối ưu hóa chi phí chứ không phải bán phá giá hay nhận trợ giá
- "Bản chất của các ứng dụng này là hợp đồng vận chuyển điện tử, đây có thể coi là một hình thức khác của xe hợp đồng khi người sử dụng dịch vụ và người lái xe ký kết hợp đồng ngay lập tức bằng ứng dụng công nghệ. Trong khi taxi là một hình thức vận chuyển được quy định riêng"

Bàn Luận Của Tui

Ứng Dụng Uber/Grab

Một lúc nào đó những năm trước, khi mạng lưới truyền thông vô tuyến bắt đầu phổ biến, chi phí sử dụng rẻ hơn, cellphone cá nhân cũng rẻ hơn thì người ta bắt đầu nghĩ đến những ứng dụng mới.

Công ty Uber soạn thảo ra một phần mềm điều độ (logistics) chuyển tải qua thông tin vô tuyến. Và họ tìm cách bắt đầu ứng dụng trên xe taxi

Tạo ra phần mềm nầy không phải là bước ngoặc vì nó không phải là độc nhất (tạm thời) hay không thay thế được; áp dụng phần mềm nầy không phải là then chốt vì một thứ khác là nền tảng của ứng dụng của nó chứ không phải chính nó.

Mẹ Của Tất Cả

Khái niệm căn bản là nguồn lực mở (open source). Nguồn lực mở thì lúc nào cũng tồn tại nhưng không phải lúc nào cũng có thể đưa nó vào sử dụng có năng suất và hữu ích.

Một lúc nào đó vài chục năm trước, người ta quan sát có hàng tỉ đơn vị nhàn rỗi/ngồi không (lúc đó là máy tính trên mạng, không phải lúc nào cũng tính toán). Nếu có cách nào kết nối các máy tính ngồi không và "ăn ké" năng lực tính toán mỗi máy một lúc mỗi lúc thì sẽ tạo ra một năng lực tính toán khổng lồ mà không phải tốn tiền để có được cái năng lực tính toán nầy (vì chúng đã là sunk cost) - Khái niệm điện toán đám mây (Cloud Computing) ra từ đó và ngày nay nó hơi biến dạng một tí.

Trong lãnh vực phần mềm, một số công ty sở hữu không cho phép ai sửa đổi phần mềm của họ (proprietary); chuyện phát triển thêm ứng dụng tùy thuộc vào công ty sở hữu. Một số phần mềm mở như Linux xuất hiện (người ta có thể đóng góp sửa đổi). Rồi các hệ điều hành của các cellphone cho phép người sử dụng viết các áp dụng mới.

Bách Khoa Toàn Thư lúc đầu là nguồn đóng, soạn bởi các tập đoàn xuất bản, viết bởi các đại học giả biên soạn công phu. Sau nầy Wikipedia là bách khoa toàn thư mở soạn bởi mọi người.

Không chỉ máy tính cá nhân hay phần mềm; xe hơi cá nhân, con người nhàn rỗi đều có mọi lúc mọi nơi. Nếu một chiếc xe hơi đang chạy nhong nhong từ điểm A đến điểm B, hay đang nhàn rỗi tại điểm đâu đó giữa A và B, và người lái xe đang rảnh; nếu anh ta "giúp" làm một công việc/nhặt một hành khách ngay tại điểm gần nhất với một đền bù khả dĩ, thì anh ta có khả năng tóm cái cơ hội nhanh nhất và cung cấp dịch vụ rẻ nhất. Vì phương tiện - người và xe - đó đang "nhàn rỗi" nên chi phí cơ hội trên nó sẽ là thấp nhất. Và vì nó đang ở gần đối tượng phục vụ nên nó cũng tốn thời gian và phí di chuyển ít nhất.

Wikinomics (wiki) là cái khái niệm nghiên cứu và tóm tắt những hiện tượng nầy. Đặc điểm của cái wikinomics là 1) Sự mở (openess), 2) Xem xét đồng sự (Peering), 3) Chia xẻ (Sharing), và 4) Phổ Biến Toàn Cầu (Acting Globally). Không có ai sáng lập wiki. Nó là một thực tế tiến hóa của xã hội/kinh tế, xảy ra khi các nguồn mở trở nên dư thừa và muốn được sử dụng, và khi người ta có công cụ để huy động chúng.

Trường Hợp Nghiên Cứu (Case Study): Vận Tải Taxi (Hmm, ở VN và rất nhiều nơi trên thế giới)

Công ty taxi truyền thống phải (nguồn riêng/đóng - proprietary resource)
- Thành lập công ty
+ Mua xe
+ Mướn người
+ Đăng ký với nhà nước
+ Duy trì xe an toàn (theo qui định)
- Tuân thủ những qui định vận chuyển hành khách theo luật lệ
- Trả thuế theo qui định nhà nước
- Mua bảo hiểm vận chuyển hành khách
- ...
Nói chung là phải tốn hàng tỉ tiền và chịu hàng đống những tiết chế theo qui định hiện hành - (Propriety entities, propriety operations). Cái chi phí overhead đã có và có thể cao nữa. Những chi phí nầy sẽ chuyển cho (charge) khách hàng

Taxi Uber (nguồn mở - open resource)
- Là xe nhà, xe nhàn rỗi (không chịu chi phối bởi nhiều luật lệ, qui định)
- Có mặt khắp nơi, mọi lúc (không phải một cá thể, mà là một tập thể xe Uber)
Xe Uber không có chi phí overhead kiểu xe taxi truyền thống - chi phí chủ nhân đã bỏ ra là cho mục đích tư nhân (sunk cost) không phải cho hoạt động chở khách.

(Sau nầy công ty Uber mua xe của họ và ... Nếu Uber hoạt động với đội ngũ xe của chính nó thì, hah, hah, nó có lẽ sẽ không còn theo được nguyên tắc wiki và ... nó thành công ty xe taxi truyền thống với cái phần mềm cài đặt)

Khi vận hành thì xe Uber thực hiện dịch vụ như một hợp đồng giữa các tư nhân, dễ dãi, riêng tư giữa một cá nhân với một cá nhân, cắt bỏ chi phí overhead và các loại phí quản lý, thậm chí thuế doanh nghiệp.

Tương Lai Thì Sao

Công ty taxi truyền thống cũng có thể lắp đặt cái phần mềm kiểu Uber để điều độ xe nhưng sẽ khó đạt được hiệu quả hoạt động và chi phí như Uber vì cái tổ chức quản lý nó đang có, và các luật lệ/qui định nó đang chịu. Nó không thể xuất hiện ở mọi nơi, mọi lúc (tương đối) so với xe Uber. Số lượng đầu xe không thể nhiều như xe Uber.

(Trong trường hợp VN, nạn kẹt xe, nhiều qui định ràng buộc, nhiều người sẵn sàng ... càng làm cho cái chi phí cơ hội và chi phí điều hành của xe taxi truyền thống cao hơn xe Uber nhiều)

Taxi Uber nếu bị tiết chế như taxi truyền thống thì thuận lợi cạnh tranh sẽ biến mất.

Tức là công nghệ không phải là yếu tố then chốt, mà nó chỉ là công cụ cần thiết vào lúc tình thế chín muồi. Cái tình thế then chốt đó là hệ thống các nguồn mở đang bắt đầu được vận hành. Nó đã đến, sẽ ở lại, đã cho thấy những thuộc tính ưu việt hơn. Người ta sẽ phải hiểu nó, sống với nó, vận hành nó tốt hơn, trật tự hơn để nó thêm hiệu quả (tiến hóa mà)

Với taxi kiểu Uber, thì nhà nước khó lòng can thiệp vào hợp động cá nhân vì đó là tự do của các cá nhân; Ở các quốc gia có cách tính thuế lợi tức cá nhân thì nguồn tiền kiếm được bởi cá nhân chạy taxi Uber vẫn bị đánh thuế đủ. Nhà nước mất nguồn thuế từ các công ty truyền thống, nhưng lấy lại từ thuế thu nhập cá nhân.
Những tiết chế trên các công ty xe taxi truyền thống không phải vô lý hoàn toàn; sự hoạt động của xe Uber cũng không phải trơn tru hết (ai muốn biết những chuyện không trơn tru nầy thì tự tìm hiểu nhe - Nhiều nơi người ta cũng bắt đầu có những qui định trên xe Uber rồi). Về mặt hoạt động điều hành thì hệ thống được chuyển từ tập trung (centralized) sang tản mác (decentralized). Một lúc nào đó, xã hội sẽ nhìn nhận lại hai cơ chế hoạt động và tạo sự dung hòa.

Khi mà cái nguồn lực không có mở hay không có những thuộc tính như được nêu trên wiki thì ứng dụng kiểu Uber có lẽ không áp dụng được

Công ty khổng lồ Amazon cũng đang thử nghiệm wiki trong giao hàng; Một số công ty bán đồ tạp hóa cũng đang muốn áp dụng wiki; Nhưng thành công nhất lúc nầy chỉ là Uber

(vì - Nói chơi mà cũng nói thiệt:
- Chở người thì không mất , chở đồ thì có thể mất/hư hỏng
- Chở người thì không phải khiêng vác; chở đồ thì phải có công cụ, xe chuyên dụng. Khi phải có những công cụ đặc biệt thì nhiều xe sẽ không "mở" nữa)

Như đã nói công nghệ Uber không phải là độc nhất. Sau một thời gian, thì nhiều nơi bắt đầu hiểu rõ cách Uber vận hành và tìm cách cạnh tranh.

Ở Trung Quốc vài tập đoàn vận chuyển hành khách khổng lồ của họ cũng có những phần mềm tương tự, và đang cạnh tranh rất hữu hiệu với Uber. (Phần chia cho Uber nên dành lại cho công ty quốc nội hay để Uber lấy đi? ) Những nơi khác bắt đầu tiết chế Uber kiểu nầy, kiểu nọ như thu phí nếu xe Uber rước khách ở một số nơi đặc biệt ...


Kết Luận

Chiếc Xe Taxi Hay Công Nghệ Kiểu Uber Hay Cách Làm Ăn/Vận Hành Là Nhân Tố Chính?
Câu trả lời rõ ràng là cách làm ăn/vận hành. Nguyên tắc nền tảng là wiki: nguồn mở/xem xét đồng sự/chia xẻ/lan rộng khắp nơi. Xe cá nhân có nhiều, người chủ xe muốn đưa nó vào hoạt động, và xã hội cho phép chuyện nầy xảy ra chính là tạo nguồn mở. Công nghệ Uber là công cụ giúp thực hiện ba chức năng sau.

Tiến bộ của công nghệ thông tin đã làm cho những cung cách làm ăn vận hành vốn không thể được ngày xưa trở thành có thể ngày nay. Chúng đã đến, có lẽ sẽ ở lại, rồi sẽ được điều chỉnh và nhân rộng qua những lãnh vực khác có những đặc điểm tương tự.

Nhà nước/xã hội và người tiêu dùng là nhân tố then chốt quyết định việc có cho cái hệ thống nầy hoạt động theo cơ chế mới hay không !!! Lựa chọn để cho phép thì chỉ có hai: cho phép hay không cho phép; Lựa chọn công nghệ thì có thể nói là vô tận. Hiểu rõ cách thức các hệ thống hoạt động và hệ lụy để biết phải quyết định như thế nào.

Nếu nguồn lực là hạn chế (limited resources) thì wiki không áp dụng được.

PS.
- Khái niệm "Xem Xét Đồng Sự" (peering) ở đây có lẽ là: vài chiếc xe ở gần điểm đang gọi; vị trí của chúng/đặc điểm xe/ ... sẽ được xem xét so sánh; chiếc xe ghi điểm cao nhất xét về tiêu chuẩn được khách đòi hỏi sẽ được lệnh go-ahead; nếu chiếc đó từ chối thì chiếc kế tiếp sẽ được lệnh ...


Edited by ntd 2017-09-11 11:16 AM
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2017-09-15 1:11 PM (#123596 - in reply to #123591)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Bàn Chơi Về Bitcoin

Dạo gần đây đồng bitcoin vừa mới nhảy cái vèo từ ~1000 USD lên ~4000 USD một đồng bitcoin. Và người ta lại xôn xao một lần nữa về tính thực/ ảo, hiện đại, tiên tiến hay hay công nghệ cao của đồng tiền nầy.

Bên Ủng Hộ
Không nên chậm trễ du nhập hay nhảy vào mảng kinh doanh nầy vì
+ Rồi nó sẽ được công nhận và dùng khắp nơi
+ Hội nhập với công nghệ tiên tiến (ở VN)
+ Cơ hội kiếm ngoại tệ cho quốc gia (ở VN)
+ …

Bên Không Ủng Hộ
Nên tránh xa mảng kinh doanh nầy vì
+ Đồ chơi hay trò chơi điện tử thôi mà
+ Âm mưu lường gạt
+ Công cụ rửa tiền
+ …

Tuy nhiên ở thời điểm nầy nhiều người đang không rõ về bitcoin/hay các đồng tiền ảo khác … Người bình thường thì có thể không rõ, nhưng các nhà nước thì có lẽ phải rõ !!!


Tiền Thật, Tiền Ảo Hay Tiền Điện Tử

Tiền thật/hay tiền "fiat": là tiền được công nhận bởi một nhà nước. Nhà nước phát hành, bảo kê, chịu trách nhiệm về tính pháp lý/thanh toán.
Tiền ảo là tiền đồ chơi, tự gán giá trị, tự thỏa thuận giá trị; Chúng vẫn có thể được trao đổi mua bán vì hmm, có người muốn mua và có người muốn bán. Đồng bitcoin là tiền ảo. Ở một chừng mực nào đó thì mua và bán đồng bitcoin là thỏa thuận của hai cá nhân tự do nên khó cấm cản.

Tiền điện tử nên được gọi lại là tiền thật thanh toán bằng các phương tiện điện tử. (online/electronic transaction).
Một số người gọi đồng bitcoin là tiền điện tử. Có lẽ không nên gọi như vậy !

Đồng Bitcoin Và Con Đường Đi Của Nó

Ngày xửa ngày xưa (nhiều chục năm trước thôi) ai đó rất có khiếu với lập trình tính toán và máy điện toán. Ông/Bà ta chế ra cái bitcoin như một đồng tiền 1) Có số lượng hạn chế nhất định, 2) Khi người ta càng khai thác nhiều thì càng khó tìm, 3) nếu càng nhiều máy đào (cạnh tranh cùng lúc) thì mức độ khó lại nhảy vọt càng cao… (?) (Đặc điểm nầy ít người biết đến; Tui không rõ lắm về cái tính chất nầy, nhưng nếu là đúng thì hỡi ôi, đây là điểm then chốt – critical !!!)

Không biết người chế bitcoin có ý định gì. Trong cái thuật toán (algorithm) giúp chi phối sự tìm kiếm chúng, sự liên hệ về số lượng chưa khai thác còn lại và độ khó tìm là tỉ lệ nghịch: còn lại càng ít thì càng khó tìm. Tuy nhiên một số người đặc biệt là những người có khuynh hướng tự do tuyệt đối (libertarian) rất thích nó vì cho rằng nó hạn chế được sự lạm phát tiền tệ và hạn chế cái thôi thúc trong chính quyền là in tiền vô tội vạ.

Các Giai Đoạn Phát Triển (của riêng tui cho dễ phân tích)

- Giai đoạn một:
Khai thác bitcoin chỉ là một trò chơi riêng rẽ của các cá nhân; người chơi phải tự viết chương trình để đào chúng. Niềm hãnh diện sẽ tăng cao khi người nào đào được nhiều (tui “thông minh/xuất chúng” hơn người khác – cái nầy đúng !) Lúc nầy đồng bitcoin không có giá. Người đào được nhiều còn cho đi như quà tặng bạn bè.

- Giai đoạn hai:
Khai thác bitcoin trở thành trò chơi của cộng đồng; giá của chúng bắt đầu tăng dần vì 1) có thị trường trao đổi, 2) nhiều người muốn có nó (?) vì những lý do riêng tư, 3) mức độ khó tìm tăng lên lũy tiến tạo ra tâm lý cầu có … Giá leo thang nhanh chóng trong những tháng cuối 2013 lên đến hơn 1000 USD/coin. (Hmm). Và bắt đầu có những sàn giao dịch bitcoin bị lủng vì bị phát hiện gian lận, hệ thống trữ tiền bị sụp và tiền ghi nhận bị mất biến. Giá đồng bitcoin bị sụp đổ và ổn định lại sau gần 2 năm (?). Điều rất quan trọng là chi phí để đào bitcoin đã và đang qua mặt giá trao đổi bitcoin trên thị trường

- Giai đoạn ba:
Các “công ty”, hay các đại gia bắt đầu vào cuộc !!! Một trong những ý nghĩ là tìm cách giảm chi phí bằng cách 1) Tìm những nơi lạnh lẽo để chi phí làm nguội máy tính rẻ, 2) Mua rẻ điện thừa để chạy máy … Và con số đầu tư tính ra hàng tỉ đô la. Giá trị trao đổi của đồng bitcoin nhảy vọt từ tầm dưới 1000, lên tới vài ngàn và … ngay cả người VN cũng bắt đầu vào cuộc …

Chúng ta đang ở giai đoạn 3 vậy

Trong giai đoạn ba nầy, có một đại công ty của Trung Quốc, hiện nay có thể nói là đứng đầu thế giới vể kinh doanh liên quan đến bitcoin, vừa có một cái xưởng khổng lồ để đào bitcoin, đồng thời lại vừa cung cấp phần cứng lẫn phần mềm giúp đào bitcoin ... cho cả thế giới. Hơn nữa đây lại là một công ty nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo. (Vừa khai thác cạnh tranh, vừa bán phần cứng/phần mềm, vừa nghiên cứu trí tuệ nhân tạo. Sao mà khôn đến vậy, kiểu nhất cử, ba bốn tiện ! )

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây chính phủ Trung Quốc lại tái xác nhận và cấm mới các công ty mở sàn giao dịch bitcoin. Giới tài chánh quốc tế đặc biệt là những ông chủ lớn có thế lực cũng lên tiếng cảnh báo.

Nên Hay Không Nên Cho Phép Bitcoin

Nếu hai người đang đào cùng lúc, một người có một máy, người kia có 99 máy. Đặc tính thứ ba của cái thuật toán đào bitcoin, theo đó tính cạnh tranh cùng lúc làm cho độ khó tìm khi có 100 máy nhảy vọt. Nếu người có 1 máy lại đi mua máy của người có 99 máy, mà lại mua cái máy cũ hơn, thuật toán cũ hơn/đã thảy loại của người ta nữa thì sao? Khi đó, cơ may của người có 1 máy là bao nhiêu?

Như đã nói, độ khó để có bitcoin đang rất cao, máy phải chạy càng lúc càng lâu và chi phí chạy máy (điện chạy máy, điện giải nhiệt … ) đã vượt giá trao đổi bitcoin những năm 2014 – 2015. Ngày nay chi phí tìm bitcoin có lẽ còn cao hơn nhiều. Tuy giá trao đổi bitcoin đã nhảy lên vài ngàn nhưng giá trao đổi không chắc sẽ ổn định …

Hmm, trong kinh doanh tài chánh, giá cả nhảy vọt thường không phải là tín hiệu đáng mừng, đặc biệt là khi sự nhảy vọt đó không có căn nguyên rõ ràng. Nếu do quan hệ cung cầu, khi cầu vượt quá cung thì giá có thể lên. Nhưng câu hỏi chính và quan trọng nhất là gì ???

Vì đồng bitcoin được tìm kiếm từ máy tính, tốn kém chi phí đáng kể để có nó, số lượng hạn chế, không đáp ứng tính linh động và dễ dàng của tiền tệ dùng trao đổi trong giao dịch, ... và ... điều cực kỳ đơn giản là không chính phủ nào phát hành hết nên không chính phủ nào công nhận !

Cung Và Cầu – Ai Cung Và Ai Cầu?

Không ai biết cán cân cung cầu của đồng bitcoin; Các sàn giao dịch có thể biết ai cung/ai cầu; Nguồn cung không chắc chắn, nguồn cầu không rõ ràng; Vì thế đây là một sản phẩm mang tính rủi ro cao. Còn xem nó như một đồng tiền thì nó xa với các tính chất của đồng tiền “fiat”. Vì thế những ai kinh doanh nghiêm túc không muốn nhận/giữ/trao đổi.

Nhiều năm trước, ai đó hỏi Giám Đốc Quỹ Dự Trữ Liên Bang Mỹ là ông ta nghĩ thế nào về đồng bitcoin. Ông ấy cười và trả lời đồng bitcoin là một thứ thú vị - Chỉ vậy thôi. Nhiều người lấy câu trả lời đó như là sự ủng hộ đồng bitcoin như là một đồng tiền hợp pháp trao đổi.

Chính phủ TQ đã từng cấm dùng bitcoin như tiền tệ trao đổi giữa các công ty kinh doanh; Lần nầy họ cấm mạnh mẽ hơn.

Và khi mà đồng bitcoin chưa khai thác không còn nhiều, khi mà giá trao đổi của nó đang tăng, thì … hah, hah, nhiều “trung tâm công nghệ” đang phát minh ra những đồng tiền khác từ máy tính … Hah, hah, hah.

Mẹ Của Tất Cả

Đồng tiền là công cụ trung gian để giúp trao đổi sản vật/dịch vụ. Nó có tính pháp lý, có tính linh động để làm cho nền kinh tế và kinh doanh hiệu quả.

Hmm, nhìn quanh thế giới thì … sự việc rõ và đơn giản:
1) Quốc gia nào cũng đã có đồng tiền chính thức, không cần một đồng tiền khác
2) Đồng bitcoin được đào bởi máy tính. Máy tính là một cái máy và là một công cụ; pháp luật và vận hành nhà nước mới quyết định cái đồng tiền nào (và tất cả các quốc gia đã !) chứ không để đồng tiền do công nghệ tạo ra “xoay” mình;
3) Chuyện giao dịch đồng bitcoin thì khó mà cấm được vì đó là quyền của người ta muốn bán một món tài sản mà họ có khi mà người khác cần mua
4) Các hoạt động phi pháp qua dùng đồng bitcoin thì gốc gác là hoạt động phi pháp còn đồng bitcoin không có tội

Vì thế không có chính phủ nào bận tâm nhiều đến đồng bitcoin; chưa có chính phủ nào công nhận đồng bitcoin như tiền tệ chuyển đổi được; người ta không cấm trao đổi bitcoin; chính phủ không nhận thanh toán bitcoin, tuyệt đại đa số cơ sở kinh doanh không nhận bitcoin; ai muốn nhận bitcoin thì tùy họ, nhưng qua chỗ khác thì phải trả tiền hợp pháp đàng hoàng; ai bị thiệt hại liên quan đến bitcoin thì khỏi thưa kiện (nếu thưa và bị xử, thì xử cái tội gian lận nếu có, còn đồng bitcoin bị để ra ngoài ! ) Đồng bitcoin được trao đổi mua bán giữa các cá nhân theo giá thỏa thuận của họ (mà lại trên căn bản của ... đồng tiền "fiat" )
Và nhớ rằng chi phí đào bitcoin không rẻ

Kết Luận

Các quốc gia đã có đồng tiền chính thức/được công nhận, đơn giản và hiệu quả; Thế giới đã có hệ thống trao đổi các đồng tiền chính thức được thỏa thuận và hiệu quả.

Nói đến tiền tệ là nói đến trách nhiệm/công việc/thẩm quyền của chỉ chính phủ mà thôi. Nếu chính phủ không thể cung cấp bitcoin, không có nhu cầu về bitcoin, không biết ai cung/ai cấp bitcoin trong lãnh thổ mình thì chính phủ chẳng bao giờ nên công nhận, trợ giúp nó !

Các chính phủ trên thế giới gần như không bận tâm với bitcoin; nơi “dễ” thì không thèm qui định gì hết (và đương nhiên chính phủ không bao giờ nhận bitcoin khi được trả tiền); nơi “khó” hơn thì sợ người ta làm "liều" (đem sử dụng trao đổi linh tinh, rồi thưa kiện om sòm) nên phải ra lệnh rõ ràng là cấm.

Nhớ rằng đồng bitcoin là được tạo ra bởi máy tính và các thuật toán. Sự tồn tại của nó có những ích lợi nhất định như các khám phá mới trong thuật toán hay trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên dùng tiền thật để có tiền ảo thì người làm ăn chân chất có lẽ đừng bao giờ nên đụng đến.

Không đáng để nhiều người cống hiến thời giờ và tiền bạc cho đồng bitcoin. Khi tiền bạc thật, thời giờ, của cải không vô tận, thì không nên lãng phí vô khai thác đồng bitcoin. Chi phí cơ hội của chuyện khai thác bitcoin sẽ rất lớn cho những ai không có nguồn lực nhàn rỗi. Người nào muốn chơi chúng thì kệ họ.

PS
- Các chính phủ không thừa nhận đồng bitcoin, nhưng họ trong chừng mực nào đó có quan tâm theo dõi các tổ chức kinh doanh trên đồng bitcoin vì hmm, các hoạt động phi pháp có thể dùng đồng bitcoin. Sự tăng giá cực nhanh trong những tháng qua phát tín hiệu không ổn đâu đó. Hic.
- Thuật toán phía sau sự hình thành đồng bitcoin - chuỗi các khối (block chain hay blockchain) rất là thú vị - đang có nhiều ứng dụng trong nhiều ngành khác nhau, đặc biệt trong lãnh vực bảo mật và tài chánh/ngân hàng



Edited by ntd 2017-09-17 4:46 PM




(bcPrice.png)



Attachments
----------------
Attachments bcPrice.png (7KB - 0 downloads)
Top of the page Bottom of the page
toan
Posted 2017-09-20 4:22 PM (#123602 - in reply to #123366)
Subject: RE: Linh tinh


Expert

Posts: 2215
2000100100
Location: Tampa, FL USA
I ... still love FL!



(WelcomeFL.jpg)



Attachments
----------------
Attachments WelcomeFL.jpg (97KB - 0 downloads)
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2017-10-09 2:15 PM (#123632 - in reply to #123602)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Cách Mạng Công Nghiệp (CMCN) 4.0

Nhân đọc mấy cái nầy trên báo VN:
1) http://www.thesaigontimes.vn/164738/Nguy-co-Viet-Nam-lo-chuyen-tau-...
2) http://www.thesaigontimes.vn/164841/Doanh-nghiep-nho-cung-can-nam-b...
3) http://www.thesaigontimes.vn/157710/Dien-mao-cuoc-cach-mang-cong-ng...
4) https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/doanh-nghiep-vi...
5) http://www.thesaigontimes.vn/164352/Khi-cach-mang-cong-nghiep-40-xo...

Theo đó:
- “Tôi rất ám ảnh với trí tuệ nhân tạo… Và cũng bị ám ảnh bởi chuyện Việt Nam lỡ nhịp với cách mạng 4.0”
- “đơn vị này hiện có 20 bộ giải pháp liên quan đến công nghiệp 4.0. Ví dụ như giao thông thông minh, môi trường thông minh, giao thông - trí tuệ nhân tạo cho cầu, nhà máy thông minh, bệnh viện thông minh…”
- “Hai ví dụ rất nhỏ ở trên cho thấy cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bắt đầu hiện diện rõ ràng như thế nào vào đời sống ở Việt Nam. Trên nền tảng Internet, người dân có thể đặt vé, thuê khách sạn, check-in tàu, máy bay, …”
- “Họ cứ nghĩ Cách mạng lần thứ tư hay trí tuệ nhân tạo là điều gì rất ghê gớm và tốn kém nhưng thật ra nó cũng bình thường. Chỉ có điều, do công nghệ mới phát triển gần đây nên chúng tôi cũng phải mất một thời gian để nghiên cứu. …”


Bàn Luận Của Tui

Cách Mạng Và Công Nghiệp Và 4.0 Và Công Nghệ

Những từ nầy không phải dễ hiểu đúng mức; đặt chúng lại với nhau thành Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 lại càng khó hiểu đúng mức. Và đến khi đó thì lại phải tự hỏi Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 liên hệ gì tới Công Nghệ.

Cách Mạng (Revolution): là thay đổi lớn, thay đổi từ cái cũ qua cái mới một cách căn bản
Công Nghiệp (Industry): là guồng máy vận hành sản xuất của một loại/nhóm sản phẩm
Công Nghệ (Technology): những cách thức/tiến trình kỹ thuật để làm một chuyện gì

Tui thêm vài khái niệm căn bản khác một cách nôm na:
Hệ Thống (System): một guồng máy/tập thể gồm nhiều phần tử khác nhau có những chức năng khác nhau để thực hiện một chức năng chung cuộc nào đó
Công Nghệ Đám Mây (Cloud Computing): Công nghệ kết nối các phần tử thông tin từ những địa điểm khác nhau, vượt quá sự thông tin trao đổi chỉ trong cùng hệ thống

Vậy thì Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) tức là hình thức sản xuất lớn đời thứ 4, sau cái CMCN 1.0 (cơ giới hóa, dùng hơi nước thay sức người/gia súc), CMCN 2.0 (sản xuất hàng loạt, tiêu chuẩn hóa, dùng điện), CMCN 3.0 (máy tính hóa và tự động hóa)

Các Chặng Đường Phát Triển Công Nghiệp

CMCN tức là sự thay đổi căn cơ từ hình thức sản xuất công nghiệp đương thời sang hình thức mới. Trọng tâm của cụm từ trên là Nền Sản Xuất Công Nghiệp;

Không có nền công nghiệp thì không cần nói nữa. Nền công nghiệp không hoàn chỉnh (thiếu thước tấc, chấp vá, không đủ các phạm trù – attributes) thì càng “cải tổ” nó (đi xa hơn) thì càng rối (confused), càng manh mún (idiosyncratic), càng không dự đoán được (unpredictable), càng khó kiểm soát (uncontrollable), và càng tốn kém (costly)

CMCN 1.0 và 2.0 có sự chuyển đổi của nguồn năng lượng; từ sức người/gia súc người ta đi hai bước để đến điện năng vì đó là nguồn năng lượng “dễ chịu” và đáng tin cậy. Không có đủ điện hay nguồn điện không ổn định, không rẻ, thì hãy dừng lại ở đây và giải quyết nó trước.
(Với sự chuyển đổi khí hậu, khi các cơn bão, gió lốc, lụt lội/hạn hán, sẽ trở nên thường xuyên hơn, khi mà người ta đang đa dạng hóa nguồn nhiên liệu sản xuất điện, việc chuyển tải điện đang trở thành mối quan tâm hàng đầu cho các nhà sản xuất điện, các công ty chuyển tải điện)

CMCN 2.0 có sự chuyển đổi từ sản xuất riêng lẻ không đồng bộ sang sản xuất đại trà và chỉ có thể được sau khi người ta tiến hành tiêu chuẩn hóa vật liệu/kích cỡ. Nếu chuyện nầy làm chưa xong thì hãy dừng lại đây và giải quyết nó trước. Cái sự tiêu chuẩn hóa không đơn giản là người ta có một tiêu chuẩn kích cỡ cho một món đồ. Nó còn là sự hình thành cách nghĩ, cách làm, cách huấn luyện, cách tiếp cận sự việc một cách chuẩn mực. Ở một chừng mực nào đó, đó là tạo một khuôn mẩu nhất định – hy sinh cái đa dạng riêng rẻ, để đạt được cái rập khuôn, đồng bộ mẫu mực. Cái khuôn mẫu đó hoặc là "thực thi tốt nhất" (best practice), hoặc là "ứng dụng an toàn" (safe application), hoặc "tiêu chuẩn thế giới" (universal standard). Quốc gia nào đến được giai đoạn nầy thì họ đã có ngành công nghiệp chế tạo (manufacturing industry) mạnh và vững vàng
PS.
- Nhật Bản (1960 – 1970s), các con hổ châu Á (Đài Loan, Singapore, Đại Hàn) (1980 – 1990) đạt được vào những năm đã nêu.
- Tiêu chuẩn hóa không chỉ là soạn thảo những bộ tiêu chuẩn quốc gia. Nó hơn thế nhiều !!!
- Nơi nào có sản xuất công nghiệp đạt mức 2.0 sẽ thấy họ có thể sản xuất được với giá thành cạnh tranh với nơi khác, sẽ thấy không hoàn toàn khó khăn khi thu hút đầu tư từ các quốc gia tiên tiến, sẽ thấy rằng nhà đầu tư/khách hàng ngày càng vui vẻ đề nghị mình sản xuất thêm món nầy món kia (tương đối thôi nhe !), sẽ thấy lực lượng lao động của mình trở nên linh động hơn (mobile) (dễ dịch chuyển nhân lực, bớt phụ thuộc vào vị trí địa lý ...)

CMCN 3.0 có sự chuyển đổi từ sản xuất cơ học do con người điều khiển sang sản xuất tự động không có con người nhờ vào việc đưa cái gọi là PLC (Programable Logics Controller) vào các máy móc. Tức là gắn bộ não/bộ phận nhận lệnh vào các máy móc. Tức là gắn các bộ phận cảm biến đo lường khắp qui trình. Các máy móc được chuyển đổi từ những công tắc cơ khí đóng mở bởi con người sang có bộ não để nhận lệnh điều khiển từ xa, hay được gài sẵn trong bộ não. Thoạt đầu là tự động tắt mở, chạy nhanh chậm theo những trình lập sẵn; sau đó tới giai đoạn máy tính hóa, chúng bắt đầu được chuyển đổi lần nữa khi các bộ phận cảm nhận điều khiển bắt đầu được chuyển đổi từ “analog” sang kỹ thuật số. Không có các thiết bị PLC, không hiểu nó, không biết cách làm việc trên các PLC, không có hệ thống kỹ thuật số thì không cần đi tiếp nữa. Không có mạng lưới thông tin đáng tin cậy thì cũng không cần nói đến nữa.

Quá độ qua CMCN 4.0 – Lúc nầy các guồng máy/dây chuyền sản xuất đã là 3.0 rồi. Các bộ phận riêng lẽ đã trở thành những phần tử của một tổng thể gọi là Hệ Thống. Lúc nầy chúng có thể chạy nhuần nhuyễn với những hệ thống tự động được kiểm soát chặt chẽ bởi các bộ não gài sẵn ở các thiết bị trên guồng máy và được điều khiển từ xa từ phòng kiểm soát trung tâm.

Đến lúc nầy thì công nghệ vô tuyến, internet đã sẵn sàng. Người ta cũng có hàng mấy thập kỷ thu lượm số liệu sản xuất kinh doanh mà người ta muốn lợi dụng chúng. Vì thế sự phát triển tự nhiên là gắn kết công nghệ mới nầy vô cái guồng máy sản xuất công nghiệp 3.0 đương thời !!!

Mục đích: người ta muốn hệ thống sản xuất công nghiệp 3.0 có thể quyết định thông minh hơn, khi máy móc hỏng thì chúng có thể la hoảng lên ngay, máy có thể biết dừng và chạy kiểu gì để ổn định và hoạt động đồng bộ, có thể nhận mệnh lệnh từ khắp nơi (không nhất thiết ở phòng điều khiển trung tâm), … Những tương tác có thể là qua sự sử dụng hợp lý/nhuần nhuyễn của các mô hình dựa trên kho số liệu khổng lồ (big data) sau khi đã được phân tích và sử lý tức thời … Nói tóm là người ta đang muốn 4.0 giúp họ có một hệ thống sản xuất công nghiệp tối ưu,và ít tốn kém.

Nói thì nói thế chứ những chuyện nầy vẫn còn là viễn ảnh (futuristic), và đến lúc nầy cũng chưa ai có thể biết được cái 4.0 sẽ ra sao. Người ta chỉ có khái niệm về một hệ thống tương lai. Còn hình hài chung cuộc thì có lẽ vẫn chưa ai hình dung được.

Mẹ Của Tất Cả

Vậy thì:
- CMCN chỉ là khái niệm với những phạm trù nầy nọ và có tính nhìn lại (retrospective) khi các nhà sử học hay nghiên cứu công nghiệp nhìn lại quá khứ và phân loại các tiến trình để có hiểu biết tốt hơn về sự tiến hóa của các nền sản xuất của con người
- CMCN không phải là một cửa ngõ (clearcut threshold), không phải là một tiến trình xảy ra trong một ngày đêm, không phải là một cái danh sách mà người ta có thể gạch qua từng món (checklist) – nôm na không phải “bước qua là tới”, "kiếm được là xong" !
- CMCN 4.0 sẽ phải được tiến hành trên các hệ thống sản xuất đồng bộ đã được tự động hóa và máy tính hóa vậy
- Và nói nôm na: CMCN 4.0 mong muốn tạo ra/hình thành những hệ thống thông tin/điều khiển/tương tác/"nói chuyện" liên tục giữa các phần tử trong hệ thống
- Người ta mong muốn CMCN 4.0 sẽ giúp cho hệ thống sản xuất thông minh hơn: ít tốn kém nguyên/nhiên liệu, ít hỏng hóc, ít sản phẩm khuyết tật, ít chất thải hơn ...; mục đích đạt được nhờ tương tác/điều khiển/nói chuyện với bên ngoài/nội bộ/hệ thống điều khiển trung tâm qua các kênh thông tin khác nhau, an toàn, đáng tin cậy; các thông tin trao đổi sẽ là những dữ liệu cần thiết, được thu lượm và sử lý cấp tốc bởi các hệ thống máy tính phức hợp, để xác định mức độ hoạt động kế tiếp cho hệ thống ...
- Công Nghệ không phải là Công Nghiệp. Công Nghệ sẽ biến đổi không ngừng vì con người và xã hội sẽ luôn tìm cách làm tốt hơn, rẻ hơn, tiện hơn, …
- Tiến bộ công nghệ có thể là từng chút (incremental) hay đột ngột (disruptive)
- Các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin/liên lạc đây đó trong quản lý không phải là CMCN 4.0 !!!
- Trí tuệ nhân tạo là một tiến bộ khoa học kỹ thuật, có thể trở thành một công nghệ áp dụng trong CMCN 4.0 nhưng bản thân nó không phải là CMCN 4.0
- Một số giải pháp công nghệ thông tin/liên lạc có thể sẽ tìm được ứng dụng trong CMCN 4.0
- Để chuyển đổi từ 3.0 sang 4.0 người ta dự đoán quá trình là “capital-intensive” – tức là tiền đầu tư sẽ rất cao (một phần là đầu tư cho hệ thống, phần khác là giải quyết cho hàng triệu người bị loại khỏi hệ thống !)
- Người làm chính sách và các nhà kinh tế nên phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa khái niệm Công Nghệ và Công Nghiệp; Một cái là cái cây, một cái là khu rừng.
- Người làm chính sách và các nhà kinh tế không nên bị ám ảnh với các cuộc CMCN trừu tượng. Trong thực tế hoạt động kinh tế/kinh doanh có những chỉ số khác cụ thể hơn, dễ hiểu hơn, cân đo được, đáng tin cậy, … có thể được sử dụng để giúp người ta biết mình nên đi về đâu, đi với tốc độ nào, đi như thế nào, …
- Các giải pháp công nghệ nào có thể giúp tăng năng suất, giảm giá thành, nâng chất lượng, thì cứ tự động nhanh chóng áp dụng, mà không cần lời hiệu triệu 3.0 hay 4.0
- Có những công nghệ rất "tiên tiến" nhưng đôi khi đi sớm hơn thời đại nên không được xã hội chấp nhận vì giá cả quá cao và hoàn cảnh áp dụng chưa sẵn sàng
- Một nền kinh tế, một nền công nghiệp, hay một cơ sở kinh doanh có thể đang sử dụng/kết hợp đủ loại công nghệ để đạt mục đích sản xuất hiệu quả, rẻ nhất, tốt nhất, ... có thể được; và các công nghệ sẽ bị/được thay thế từ từ hay đột ngột tùy thuộc hoàn cảnh cho phép
- Khi đưa công nghệ mới vào sản xuất, tùy thuộc vào sự chín cùa công nghệ mà có: 1) Du nhập sớm - Early adopting, 2) Dẫn đầu - Front running, 3) Ai sao mình vậy - Mainstreaming, 3) Đến trễ - Late coming

Một Mẩu Chuyện Có Ý Nghĩa

Lập lại một lần nữa câu tuyên bố của ông Lý Quang Diệu: “Thành tựu lớn nhất của tui là quyết định cho lắp điều hòa nhiệt độ ở Singapore”. Hoàn cảnh lúc đó là: xứ nhiệt đới nóng bức, một ngày chỉ có thể làm việc 1, hay 2 tiếng sáng sớm. Dân không lo làm mà chỉ lo quạt.

Sau khi lắp điều hòa nhiệt độ, thì người ta có thể làm được nhiều giờ hơn. Lúc nầy mới có thể nói đến chuyện gia công hàng cho người khác cả ngày lẫn đêm. Rồi vì là xứ đảo quốc đi lại thông thương dễ dàng nên nhiều nước đem đồ đến gia công, một khi họ có đội ngũ công nhân làm việc cần mẫn có kỷ luật. Rồi thì …; Rồi thì … ; Ngày nay, thì họ không cần làm công nghiệp 3.0, hay 4.0. Cả hòn đảo bây giờ dư tiền xài cho mỗi người dân. Họ bây giờ cho thuê văn phòng cho hàng ngàn đại công ty quốc tế; số dân của Singapore hiện tại chỉ đủ để làm trong các công nghiệp dịch vụ và quản lý tài sản, lấy đâu ra người mà làm trong các nhà máy công nghiệp.

Hah, hah. Đây là chuyện Singapore, chỉ thích hợp cho Singapore. Đừng học theo. Cái có thể học là lãnh đạo có quyết định “độc đáo” (quá đơn giản mà lại ít tốn kém để giải quyết trực tiếp vấn đề lại có lợi về lâu dài) để giải quyết tận gốc và căn cơ một tình huống cốt lõi ảnh hưởng sâu rộng suốt bao nhiêu năm.


Kết Luận

Một quốc gia hay một nền kinh tế có thể sống tốt mà không cần nền công nghiệp 3.0 hoặc 4.0. Cũng có nơi thì không thể sống tốt nếu không có chúng. Câu hỏi là ai có thể và ai không thể? Người ta phải tự quyết định sau khi phân tích hoàn cảnh của chính mình.

Câu hỏi cũng không hoàn toàn không thể trả lời được. Sẽ phải tìm hiểu xem mình đang ở đâu. Tuy nhiên, trên con đường đi tìm câu trả lời hãy tránh tự huyễn hoặc mình, tránh bị người huyễn hoặc, thành thật với những số liệu, kiểm tra túi tiền của mình. Và …;

Một nền công nghiệp có lẽ áp dụng nhiều công nghệ khác nhau. Một công nghệ nào đó cũng không nhất thiết chỉ được áp dụng trong một ngành công nghiệp nhất định.

Một số quốc gia như Nhật Bản (1970), Singapore/Đài Loan/Đại Hàn (1990), Trung Quốc/ Brazil (2000) tóm bắt cơ hội áp dụng công nghệ mới để đẩy nền công nghiệp sản xuất của họ lên một bậc khác vào đúng lúc cần thiết khi tình thế chín muồi (sẵn sàng vốn, có quyết tâm, biết định hướng, chuẩn bị môi trường, ... )

PS.

- Mỗi lần Tổng Thống mới của Mỹ được bầu, TT tân cử sẽ đi tìm cố vấn kinh tế để vấn kế. Và các ông cố vấn đó chưa hề bận tâm trả lời câu hỏi là sản xuất công nghiệp của Mỹ/Thế Giới đang ở giai đoạn nào của cuộc CMCN.
- Nếu người ta hỏi các lãnh đạo kinh doanh của Mỹ là tình trạng công nghiệp các anh tới đâu thì chắc cũng chẳng ai biết. Nhưng cái họ sẽ biết là kế hoạch phát triển tương lai xa (long-term) và gần (short-term), mua bao nhiêu máy, máy loại nào, mở bao nhiêu hãng xưởng, mướn bao nhiêu nhân lực ...
- Trung Quốc hay Ấn Độ có lẽ cũng chưa có nền sản xuất thế hệ thứ ba. Nhưng con đường họ chọn đi lên thì rất thú vị.


Edited by ntd 2017-10-22 10:59 AM




(CMCN.png)



Attachments
----------------
Attachments CMCN.png (33KB - 0 downloads)
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2017-12-06 3:02 PM (#123700 - in reply to #123632)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Bàn Tiếp Về Bitcoin

Vài Khái Niệm Căn Bản
- Ở các quốc gia tư bản, người ta có quyền sở hữu tài sản. Nên nếu món tài sản đó không phải là hàng quốc cấm, thì bạn có quyền mua bán tài sản đó
- Có hai loại là 1) hàng hóa được qui định (regulated) và 2) hàng hóa không được qui định (non-regulated). Với loại được qui định thì giao dịch phải theo những thủ tục cần thiết vì có nhiều điều luật quản lý nó. Loại không được qui định thì tự do, mua bán sao cũng được

Một Số Sự Kiện

- Vài tháng trước chủ tịch Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế gợi ý các quốc gia nên quan tâm đến giao dịch của đồng bitcoin
- Vài hãng tài chánh kỹ thuật lên tiếng ủng hộ đồng bitcoin và người ta hiểu lập lờ như quốc gia X, quốc gia Y công nhận đồng bitcoin
- Vài công ty kinh doanh đổi hướng, kèm theo cái nhãn có dính dáng đến bitcoin là thấy cổ phiếu của họ tăng lên vùn vụt
- Sàn Giao Dịch Hàng Hóa ở Chicago, Sàn NASDAQ, hay đâu đó đang chuẩn bị cho phép các giao dịch liên quan đến đồng bitcoin. Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước Mỹ gật đầu chuyện nầy.
- https://www.bloomberg.com/news/articles/2017-12-04/the-next-big-shor...

Bàn Luận Của Tui

Bà Chủ tịch Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã không lầm lẫn khi kêu gọi các quốc gia quan tâm đến chuyện giao dịch của đồng bitcoin. Ở nhiều nơi nó đã gây ảnh hưởng ít nhiều đến sinh hoạt/đời sống và hoạt động tài chánh kinh doanh của địa phương. Nhớ rằng kêu gọi quan tâm của bà ấy không có nghĩa là công nhận tính hợp pháp của nó như một tiền tệ, mà bà ta ám chỉ rằng nó sẽ ảnh hưởng xáo trộn đến các hoạt động thực tế và cần thiết của cuộc sống. (Nhìn xa !)

Hiện nay trong cái thế giới bitcoin một ngày có vô số những bài viết bàn bạc về triển vọng, tính ảo, tính hợp pháp, … Một số hãng tài chánh kỹ thuật cố gắng ám chỉ rằng nhà nước nầy nọ công nhận kiểu nầy kiểu nọ. Người ta cũng đọc thấy những gương điển hình thành công. Lần nữa, tiền tệ là chuyện tối nghiêm trọng của một quốc gia. Tỉ giá trao đổi của đồng tiền chính thức nầy với đồng tiền chính thức khác là chuyện cực kỳ quan trọng trong thương mại quốc tế mỗi ngày. (Tỉ giá hối đoái kể tới 4 chữ số thập phân X.YYYY chứ không phải chỉ 2 chữ số). Thiếu vắng một đạo luật “nghiêm chỉnh” được soạn thảo và thông qua bởi quốc hội, ký bởi Tổng Thống hay Thủ Tướng thì đừng hòng có chuyện công nhận đồng bitcoin

Cùng lúc với chuyện đồng bitcoin từ không giá trị rồi tăng dần lên, đặc biệt là tăng giá 10 lần trong năm 2017 đang làm nhiều người quan tâm và lưu ý:
- Có kẻ kiếm được tiền. Hmm, kiếm được tiền mà không đóng thuế thì đâu được há?
- Tiền đang dịch chuyển qua biên giới qua mặt các cơ quan quản lý tài chánh nhà nước. Nếu tiền được dùng để tài trợ các chuyện phi pháp thì sao?
- Vốn hóa của các đồng bitcoin nầy giờ đây đã hơn 200 tỉ đô la Mỹ. Hah, hah, cái nầy thì đang làm cho nhiều người thèm chảy nước miếng, …
- Người ta bỏ công ăn chuyện làm, đổ công/của vào đồng bitcoin

Đồng bitcoin cho tới giờ được xem như một loại hàng hóa. Cho đến nay loại hàng hóa nầy thuộc loại “Không Được Qui Định” ở Mỹ. Vì thế Ủy Ban Chứng Khoán Mỹ không có luật quản lý, và do đó không có cơ sở để cấm nó. Tức là, sự việc để cho mua bán tự do đồng bitcoin như một loại hàng hóa không qui định không phải là công nhận tính hợp pháp của đồng tiền (như nhiều người lầm tưởng. Hà hà, nói cách khác ở Mỹ, cho phép giao dịch không có nghĩa là công nhận cái chức năng tiền tệ hợp pháp)

Sở hữu đồng bitcoin khác rất nhiều với sở hữu chứng khoán, hay sở hữu tiền hợp pháp (fiat money). Sở hữu cổ phiếu là sở hữu một phần của công ty (nếu không phải công ty ma !); Sở hữu tiền hợp pháp là sở hữu một năng lực trao đổi hàng hóa/dịch vụ được công nhận bởi xã hội và nhà nước. Sở hữu bitcoin là sở hữu một mã số, được tạo ra bởi máy tính, có giá trị nào đó qui đổi ra tiền thật khi còn có người muốn mua (không phải “người muốn mua và người muốn bán” !!! Bỏ "người muốn bán" ra là có ý - thuận theo châm ngôn "chỉ có người mua lầm chứ người bán không lầm" )

Kết Luận

Có kẻ kiếm tiền nhờ vào cái gì đang lên giá, nhưng cũng có kẻ kiếm tiền nhờ vào cái gì đang có giá mà sẽ mất giá, và tốt nhất là mất sạch giá. Loại thứ nhất thường là giai đoạn một (lên dốc); loại thứ hai thường là giai đoạn hai (xuống dốc). Kẻ tham gia có khi chỉ chơi một bên có khi láu cá hơn chơi cả hai bên. Để có giai đoạn một thì không cần gì nhiều, đôi khi chỉ cần món hàng. Để có giai đoạn hai thì cần phải có “sân chơi” và nếu sân chơi mà họ am hiểu địa thế thì càng tốt.

(Xem hình để biết lên dốc/xuống dốc)

PS.

- Chủ Tịch một ngân hàng và tập đoàn tài chánh khổng lồ ở Mỹ đã lên tiếng nguyền rủa đồng bitcoin nhưng vài tháng sau lại đồng ý để cấp dưới tham gia thị trường giao dịch bitcoin. Nói một đằng làm một nẻo ? Hay là "Không vào hang cọp sao bắt được cọp con" ?

- Những nhân vật có thế lực, tên tuổi ít nhiều đã/đang lên tiếng về bitcoin. Hãy đọc kỹ bài viết trên báo Bloomberg trích dẫn ở trên. Nội dung được trình bày bởi phóng viên, nhưng phản ánh một tiến trình thực tiễn lập đi lập lại nhiều lần trong quá khứ.

- Bức hình minh họa các giai đoạn của một chu kỳ bong bóng, cùng với tâm lý/phản ứng của những người tham gia. Không phải áp dụng cho tất cả, cũng không phải áp dụng giống hệt cho mọi thứ ...



Edited by ntd 2017-12-06 3:34 PM




(market_cycle.png)



Attachments
----------------
Attachments market_cycle.png (51KB - 0 downloads)
Top of the page Bottom of the page
tochuong
Posted 2017-12-11 12:11 PM (#123701 - in reply to #123366)
Subject: RE: Linh tinh


Expert

Posts: 2529
200050025
Location: Naperville, IL
hì hì.. thread này đề là "Linh Tinh" mà Mr. Bú Phê nói nghiêm trang quá. Linh tinh nè



(bitcoin.jpg)



Attachments
----------------
Attachments bitcoin.jpg (32KB - 0 downloads)
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2017-12-23 9:22 PM (#123702 - in reply to #123701)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Chuyện Cá Thịt Và Cá Mập

Nhiều năm trước ở đâu đó, có một vùng biển tăm tối, phát sinh ra một cái gì đó khá hấp dẫn. Có những con cá nhỏ đổ tới, lớn dần lên. Rồi những con cá lớn khác bắt đầu đổ xô tới. Những con cá càng lúc càng lớn càng béo mập, mập tròm trèm tới 20 ngàn kí. Cả một vùng đầy cá béo chen chúc.

Những con cá mập đã đánh hơi ra được nhưng chúng không thể bơi tới đó. Nơi đó không phải sân ăn của chúng: có đến được cũng không thể ăn, không có cách ăn, ... Nhưng người ta vẫn có thể tìm cách cho cá mập đớp bầy cá thịt, bằng cách lập một sàn cá “quen thuộc” trên sân nhà. Ở sân của bầy cá mập, chúng được phép đớp, có đủ các phương tiện cách thức để “đớp” bầy cá thịt, …

Một khi cá mập bắt đầu đớp thì máu sẽ chảy lan ra và càng làm cho cá mập say mồi. Cá thịt sẽ hoảng loạn, và càng hoảng loạn tìm đường thoát thì càng mau chết.

Rồi những con cá mập sẽ đớp sạch một lần, hay là đớp một lần rồi ngưng để dưỡng bầy cá mồi rồi lại đớp nữa, rồi dưỡng, rồi đớp, … ???

Chuyện Sàn Trao Đổi Hàng Hóa – Mua Bán Hợp Đồng Tương Lai, Quyền Chọn

Nơi đó, người ta có thể mua/bán các hàng hóa hôm nay, giao ngày mai với một giá nhất định. Người ta có thể mua/bán quyền mua hàng hóa, mua/bán quyền bán hàng hóa ở một giá nhất định. Có kẻ mua, người bán; có kẻ môi giới, kẻ làm thị trường. Cho tới lúc nầy tuyệt đại đa số hàng hóa là hàng vật chất (physical !) có giá trị thật sự ngoài đời (hah, chuyện nầy cực quan trọng vì nó làm cho người ta có lý do để lên sàn !)

Nếu người tham gia các hợp đồng mua bán tất toán trước thời hạn chót thì họ thanh lý hợp đồng trên giấy tờ (close the contract) mà không nhận hàng vật chất. Nếu họ chọn duy trì (open) hợp đồng quá hạn chót thì họ sẽ nhận hàng hóa vật chất giao tại địa điểm thỏa thuận. Và họ sẽ bán/mua món hàng được giao ngoài chợ (spot market) và lấy tiền lại. Nhấn mạnh những giao dịch ở thị trường mua bán hợp đồng tương lai hay quyền chọn dựa trên những món hàng thật sự (lúa mì, sắt thép, dầu hỏa, đồng đô la, … ) có thể bán lại ngoài thị trường thật để thu hồi tiền.

Những ngày cuối năm 2017. Đồng bitcoin lên sàn Mua Bán Hàng Hóa Chicago. Đồng bitcoin cũng lên sàn NASDAQ và vài sàn khác. Bitcoin là đồng tiền ảo, một mã số, được lưu trữ trong nhiều hệ thống máy tính vận hành theo cơ chế Chuỗi Khối (Blockchain). Khi chúng được chuyển giao, thì hệ thống máy tính sẽ ghi nhận mã số thuộc về người chủ mới.

Bitcoin Và Hợp Đồng Tương Lai Và Quyền Chọn

Thị trường bitcoin đã lên đến hơn 200 tỉ vài tuần trước và mỗi bitcoin đã lên đến gần 20 ngàn đô la. Bitcoin được trao đổi trên các sàn trao đổi tiền ảo cho đến vài tuần trước. Hmm, đến lúc người ta không thể kềm chế được nữa; chỉ trong một tuần ba bốn sàn trao đổi chứng khoán/hàng hóa “đồng loạt” cho phép trao đổi bitcoin. Một khác biệt của chuyện trao đổi trên các sàn nầy là cho phép bán khống (naked short) – bán mà không có hàng trong tay, hay nói cách khác là mượn hàng bán trước và trả hàng lại sau đó. Nếu giá mua lại sau nầy thấp hơn giá lúc bán, thì người bán khống sẽ lời. Nếu giá mua lại sau nầy cao hơn giá lúc bán, thì người bán khống sẽ lỗ.

Một món hàng lúc đầu có giá gần như zero. Hôm nay có giá gần 20K vì người ta đã đổ tiền vào nuôi nó lớn như vậy. Nếu người ta có thể làm cho nó trở lại zero, thì nhiều người sẽ mất hàng tỉ đô la, và nhiều người sẽ được hàng tỉ đô la.

Hah, hah, sân chơi đã lập (sàn đớp cá đã mở). Những tay chơi đã nhẵn mặt: người lập sàn, người làm giá, kẻ làm thị trường, kẻ thu lượm số liệu, ... Những tay chơi đã quá rành các thủ thuật chơi. Cuộc chơi bắt đầu. Trước khi các sàn chính thức hoạt động, giới “hiểu biết” đã bảo rằng "Bán Khống Bắt Đầu".

Ngày đầu giao dịch, giá vừa nhú tròm trèm 20K là người ta lật đật ra tay (nhanh tay còn chậm tay hết – bán khống ở 20K tốt hơn bán khống ở 18K, 16K, … và đương nhiên sẽ hốt trọn gói nếu giá bitcoin rớt xuống zero) . (Cú đớp đầu tiên ! Một số con cá mập nào đó không kiên nhẫn được nữa) Và trong những ngày kế tiếp các sàn ghi nhận “phí bảo hiểm” là vài ngàn một bitcoin; "người ta" còn dự định sẽ để hợp đồng mở đến quá hạn để “người bán giao hàng”. Hah, hah, “bài” lật quá nhanh, quá nhanh ! Nhớ: nếu người bán phải giao hàng thì họ sẽ giao các mã số. (Có khi cũng không kịp giao các mã số và sẽ không ai có thể kiện cáo ai được - hic !) Đó là tất cả. Và người mua sau khi trả hàng tỉ đô la thiệt sẽ nhận được các mã số lưu trữ trong các máy tính đâu đó trên thế giới. Nếu lúc đó bitcoin không còn ai mua và giá là zero thì cái mã số sẽ trở thành ngớ ngẩn. Quá đau phải không?

PS.
- Các hàng hóa vật chất khác vẫn có giá trị/giá cả (ngoài thị trường khi được giao nhận) không khác nhiều so với giá tất toán hợp đồng trên sàn giao dịch. Và người ta vẫn có thể bán được một tấn lúa mì, một thùng dầu thô, ... ở ngoài chợ. Vì thế các tay môi giới, làm thị trường, … không ngần ngại viết hợp đồng giao dịch mà không cần cân bằng mua và bán. Và người ta chỉ đòi một số tiền phí tương đối nhỏ.
- Nếu bên bán hợp đồng chọn đòi giá 3-4K mới chịu bán khi bitcoin ở 18K thì có nghĩa là họ dự đoán giá sẽ rớt xuống tới 15-14K. Kẻ khác một khi thấy vậy sẽ nhanh tay mượn khống và bán khống khi giá còn 18K, làm tràn ngập thị trường với lệnh bán, giá theo đó sẽ rớt ào ào, và biến dự đoán giá 15-14K thành hiện thực nhanh chóng. Vậy là hợp đồng chưa đến ngày tất toán mà giá đã có lẽ xuống thấp hơn "giá bảo hiểm 3-4K", và người bán hợp đồng put sẽ gánh lỗ. (Và do đó mức 3-4K là không đủ) Người soạn lệnh bán "hợp đồng Đặt" kế tiếp phải đòi hơn 3-4K tức 7-8K hay hơn nữa (vì ai biết được giá sẽ rớt bao nhiêu ?) chẳng hạn với giá 18K (Strike price) mớc chịu bán; hoặc người ta phải đổ xô tới mức giá strike mới là 15K, rồi 14K, rồi ...
- Vì là công nghệ khối chuỗi, nên các giao dịch tất toán sẽ khá chậm vì các hệ thống toàn thế giới phải cập nhật cùng lúc các thay đổi. Khi có một số lượng lớn các cập nhật được yêu cầu cùng lúc thì khả năng sập sàn là dễ xảy ra. Và nếu sàn sập thì tâm lý hoảng loạn sẽ gia tăng phi mã. Hmm, khi nhiều người mong muốn thoát qua một khung cửa hẹp, ...
- Sự lên giá của bitcoin trong những tháng vừa qua là nhờ tin đồn. Khi hoảng loạn mất giá thì tin đồn thiệt và thất thiệt lan còn nhanh hơn nữa.
- Và các chính phủ đã/đang nghi ngờ và bối rối với những xáo trộn của đồng bitcoin, trong hoàn cảnh bổ nhào của nó sẽ có thể sớm ra lệnh quản lý/cấm/ ...
- Với đồng tiền ảo giá cả ngoài thị trường khi được giao nhận có thể khác cỡ zero- 20K so với giá tất toán hợp đồng trên sàn giao dịch. Vì thế các dịch vụ trao đổi trong những ngày tháng sắp tới sẽ đầy những chuyện cụp lạc.
- Những kẻ "viết" hợp đồng quyền chọn không mấy khi chịu lỗ hay được phép lỗ; lý do là họ sẽ bán ngay hợp đồng đó (tìm người thế chân họ) và để cho các bên mua/bán bên ngoài sát phạt lẫn nhau. Họ mà lỗ thì sẽ có khối chuyện hỗn loạn xảy ra trên thị trường !!!

Bình Luận Của Tui

Người sáng lập ra một loại tiền khác bán sạch các đồng tiền của anh ta, và vẫn tuyên bố tui bán để tập trung toàn bộ thời gian cho ... đồng tiền con đẻ. Hah, hah. Tay nầy khôn ngoan và bịp bợm lắm theo kiểu "tui chất tiền lên máy bay đi rồi nhưng các anh vẫn cứ ở lại chơi cho vui nhé. Tui sẽ vẫn theo dõi các anh từ xa !". Sau nầy nhìn lại thì có lẽ rửa tay gác kiếm trước khi các sàn khác cho giao dịch là hành động khôn ngoan.

Trường Hợp (Case Study) Thứ Nhất – Các Đại Gia Tỉ Phú

Các tay tỉ phú “bitcoin” (đang sở hữu nhiều bitcoin, một phần có lẽ đã bán rồi, phần khác có lẽ vẫn còn giữ), có lẽ sẽ mua mạnh các hợp đồng Đặt (put) vì họ muốn bán những đồng bitcoin ở giá mười mấy ngàn. Như vậy họ sẽ giữ được tài sản vài tỉ. Nhưng liệu có ai dám bán các hợp đồng “put” cho anh ta, và bán bao nhiêu? Không có hợp đồng mua cân bằng, liệu có ai dám viết các hợp đồng put cho anh ta?

Trường Hợp (Case Study) Thứ Nhì – Các Kẻ Mua Bán Chụp Giật

Những người nầy ít vốn, vô sau, đầu cơ, mua rẻ bán mắc, mua mắc bán mắc hơn, hy vọng sẽ kiếm chênh lệch. Anh ta đang sở hữu vài đồng, mua lúc 18K chẳng hạn, hy vọng giá sẽ lên vài chục ngàn hay thậm chí vài trăm ngàn. Anh ta có lẽ không có cơ hội mua hợp đồng quyền chọn vì sàn không giao dịch vài đơn vị. Và anh ta có lẽ cũng không còn tiềm lực 3 - 4K mỗi đồng để mua các hợp đồng Đặt. Vậy là anh ta sẽ trơ mình ra cho các sức đẩy của thị trường

Trường Hợp (Case Study) Thứ Ba – Các Kẻ Mua Với Niềm Tin Và Hy Vọng

Những người nầy ít vốn, vô sau, nghe những lời tốt đẹp về tương lai của đồng tiền, tin rằng chúng sẽ lên giá và lên giá rất cao. Anh ta dè dặt, nhưng cuối cùng không cưỡng được cám dỗ nên cuối cùng có lẽ anh ta mua lúc giá tròm trèm 20K. Anh ta bán tài sản gia đình, dốc tiền dành dụm mua được vài đồng, hy vọng sẽ đổi đời sau nầy. Vậy là anh ta sẽ trơ mình ra cho các sức đẩy của thị trường.

Trường Hợp (Case Study) Thứ Tư – Các Kẻ Phiêu Lưu

Những người nầy khá vốn, vô sơm sớm, phiêu lưu, có một ít kinh nghiệm/hiểu biết về tài chánh, hoặc kỹ thuật. Anh ta có lẽ bán tài sản gia đình, vay mượn, dốc tiền dành dụm mua được vài hay nhiều đồng, tin tưởng vận may hay kỹ năng/kiến thức của mình. Anh ta thích lên các diễn đàn, tin tưởng ở các phân tích kỹ thuật, tin tưởng thế giới sẽ hội tụ quanh các đồng tiền nằm trong máy tính. Vậy là anh ta sẽ trơ mình ra cho các sức đẩy của thị trường, các phân tích nhập nhằng, các lời đồn đoán, và anh ta … có lẽ sẽ rất … bận rộn trong những ngày tới.

Lời Cuối Chứ Chưa Phải Kết Luận

Bitcoin là một trong những ứng dụng có thể của công nghệ chuỗi khối. Bitcoin không phải là công nghệ khối chuỗi.

Quốc gia nào cũng đã có đồng tiền của họ. Các chính phủ đương nhiên không muốn một thứ siêu tiền tệ nào khác chi phối khuynh đảo đồng tiền của họ.

Không nên so sánh tiền ảo với các món khác như hàng hóa vật chất, tiền tệ hợp pháp, cổ phiếu công ty, … vì những thứ nầy đã tồn tại lâu đời, có những quy luật vận động chừng mực, hợp lý, hiểu được, có giá trị thật ngoài đời thường. Bitcoin là tiền ảo, xuất phát từ thinh không và lợi ích thực sự của nó vẫn còn chưa được hiểu rõ. Nó có giá khi còn có người mua. Và người ta muốn mua khi người ta còn kỳ vọng nó lên giá !

Lịch sử đã chứng kiến vô vàn những vụ làm giàu phi mã và cuối cùng sau khi thất bại thì người ta đều qui về một nguyên do là gian lận/lừa gạt. Nhà đầu tư lớn/nghiêm chỉnh thì đầu tư dựa vào xác suất: bán khi xác suất tăng giá nhỏ hơn xác suất rớt giá (risk vs. reward), mua khi xác suất tăng giá lớn hơn xác suất rớt giá. Và để tính xác suất thì người ta dựa vào nhiều yếu tố khác nhau chứ không chỉ dựa vào biểu đồ phân tích kỹ thuật hay biểu đồ giá trong quá khứ. Kẻ nào tuyên bố là giá tương lai sẽ là xxx thì kẻ đó đang bịp.

Các chính phủ không hài lòng vì nhiều nơi người dân đang đổ tiền của/thời gian vào những mã số tồn tại đâu đó. Nếu một chính phủ “quan trọng” nào đó tuyên bố là cấm, hay điều tra, … thì những chính phủ khác có lẽ sẽ theo đuôi.

Những ngày tháng vừa qua, các tổ chức tập đoàn tài chánh khổng lồ trên thế giới rất không hài lòng với các hoạt động trao đổi của đồng tiền ảo. Họ gọi các hoạt động nầy là “mua bán chen chúc” – crowd trade. Chúng cạnh tranh với các hoạt động kinh doanh của họ. Và khi những các tập đoàn tài chánh khổng lồ nổi giận và nếu mà họ đồng loạt hành động nữa thì … Và người ta cũng không lạ là các tập đoàn tài chánh lớn luôn có ảnh hưởng ít nhiều đến các quyết định của chính phủ.

Khi bong bong đầu cơ vỡ, nó có thể 1) vỡ ngay tức thì, 2) hoặc xẹp từ từ cho đến khi xẹp hẳn, 3) hoặc xẹp rồi sẽ phát triển mạnh hơn 4) hoặc xẹp rồi được bơm lại, rồi xẹp, rồi bơm cho đến khi xẹp hẳn.
1) Sản phẩm không có một tí ứng dụng; can thiệp và phá quấy các hoạt động của xã hội
2) Sản phẩm có ứng dụng nhưng không nhiều như dự đoán ban đầu; người ta tìm thấy những sản phẩm tốt hơn
3) Sản phẩm thật sự có ứng dụng lớn nhưng bị người ta đổ xô vào nhanh quá, nhiều quá lúc đầu; người ta tìm thấy thêm những ứng dụng cho sản phẩm
4) Sản phẩm … quái gỡ, người tham gia điên rồ !

PS.
- Trên bề mặt, theo thời giá 18 - 20K, vài chục triệu bitcoin trị giá vài trăm tỉ đô la vài tuần trước. Không nhất thiết là đã có vài trăm tỉ đô la đổ vào đây.
- Phản ứng của người tham gia luôn phức tạp, tham lam, kỳ vọng, chán chê, mệt mỏi, ... vì thế đà đi lên hay đi xuống ít khi là một chiều phẳng lặng (mà lại trồi lên trụt xuống ...)
- Nếu hàng hóa trao đổi là hàng thật (dù là software) thì đà đi xuống sẽ dừng lại ở đâu đó trên zero. (Cái logo Enron nghiêng nghiêng những ngày cuối cũng còn bán được vài đồng trên Ebay!) Còn nếu nó là ảo, là một mã số thì ... hic, điểm dừng zero cũng có thể.
- Điều đáng ghi nhận nhất mà kẻ có niềm tin ở bitcoin không/chưa nhận ra là đồng tiền ảo chỉ tồn tại trong cái thế giới của nó, bởi những người tham gia trong cái thế giới đó. Một thử nghiệm nhỏ:
+ nếu sau khi tất toán hợp đồng mua bán, người mua nhận được 1 tấn lúa mì/một đồng Bảng Anh/... từ người bán. Họ có thể đem lúa mì bán cho nhà máy xay, đem đồng Bảng Anh bán cho ngân hàng, ... lấy lại đồng đô la, hay tiền VN.
+ nếu sau khi tất toán hợp đồng, người mua nhận được một Mã Số ... từ người bán. Họ khó có thể đem bán hay bảo người ta đổi cho họ cái gì hữu ích, ... ngoài đời. Và nếu lúc đó, cái thế giới/hệ thống ảo từng sản sinh ra những mã số đó đã sập tiệm, thì ôi thôi, muốn chui trở vào thế giới đó cũng không được nữa
+ nếu các hệ thống giao dịch bị sập, thì người giao dịch có lẽ cũng không còn cơ hội để nhận dạng mình đã mua đã bán cho ai, và có lẽ không thể kiện cáo ai được dù muốn
+ tức là người ta đã không/hay không muốn lường trước cái hồi kết của cuộc chơi (end-game)


Edited by ntd 2018-01-05 12:12 PM
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2018-02-12 3:04 AM (#123762 - in reply to #123702)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Nhân đọc mấy cái nầy:

http://www.thesaigontimes.vn/268894/De-khong-lo-chuyen-tau-tai-chin...
http://vietnamnet.vn/vn/thong-tin-truyen-thong/cach-mang-cong-nghie...
http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/vien-thong/viet-nam-se-la-mot-tro...
http://vtv.vn/kinh-te/cach-mang-cong-nghiep-40-co-hoi-hiem-co-cho-v...

nên nghĩ về thương mại điện tử và hệ thống chi trả điện tử.

Vài Khái Niệm Căn Bản Cần Biết

Chi Phí Cơ Hội: là chi phí bị mất đi nếu người ta không tóm lấy cái cơ hội đang đến để tiến hành một quá trình (kinh doanh). Chi phí nầy không nhất thiết phải là tiền hay giá trị sờ được (tangible value); chi phí nầy được thể hiện qua: "phải chi hồi trước tui mua/bán/làm nó", "đường xá lúc nào cũng kẹt xe và mỗi người phải mất hàng mấy giờ mỗi ngày, cộng lại là bao nhiêu thời giờ và tiền bạc", ... Đối với nhiều người/hoàn cảnh ... cái chi phí cơ hội là hữu hình hoặc vô hình, "sờ" được hoặc không sờ được, tính ra hoặc không tính ra được. Nhưng đối với một xã hội, quốc gia, khi gom lại (aggregate), thì nền kinh tế hoạt động ở mức độ kém hiệu quả nhiều. Cũng cùng một cấp độ (dân số, đầu tư, ... ) nền kinh tế nầy sản xuất ra được một phần nhỏ của nền kinh tế khác - số chênh lệch là tiêu tốn cho cái chi phí cơ hội đó mà !!!

Giá Trị Gia Tăng: sự chênh lệch giá trị ở đầu ra và giá trị đầu vào của một quá trình (giá trị chứ không nhất thiết là giá cả).

Chuyện … Đông Tà và Tây Độc !

Tây Độc ở đây là công ty Amazon – tiền thân là một công ty bán sách cũ những năm 1990s; người sáng lập Jeff B. từng lái chiếc xe thùng đi thu lượm sách cũ về bán trực tuyến (online). Sau khi bán sách, ông B. bán các mặt hàng khác như sách báo phim ảnh đĩa hát … Ngày nay đế quốc thương mại Amazon bán tất tật hàng tiêu dùng, và ông chủ đã trở thành người giàu nhất hành tinh.

Trong lịch sử trưởng thành của Amazon, người ta thấy những lúc mà họ nắm bắt được cơ hội/thời thế, những lúc khác nhờ sự khôn ngoan và quyết định đúng đắn của ông chủ và ban quản trị, và những lúc khác nữa nhờ may mắn.

- Chọn lựa bán sách lúc đầu là quyết định khôn ngoan giúp Amazon dựng nghiệp trong thời buổi sơ sinh của thương mại điện tử trong khi nhiều kẻ khác thất bại. Ông B. chọn bán sách lúc đó vì ông chủ yếu bán cái chữ - không hư, không hao, được tiêu chuẩn hóa, không có “dị bản”. Các kẻ kinh doanh khác không sống sót hay không phát triển nhanh vì họ chọn kinh doanh những món không thể hay khó giao cho khách theo thỏa thuận như thực phẩm (grocery), đồ chơi (rẻ, ), quần áo (phải thử, phải sờ nắn được, …) Sau nầy khi người ta tìm được những cách giao hàng nhanh hơn, rẻ hơn, an toàn hơn, …
- Những ngày đầu (1990s), thương mại điện tử ở Mỹ không bị đánh thuế. Người mua tiết kiệm được một ít tiền thuế, người bán trực tuyến bán được rẻ hơn. Nhưng chi phí giao nhận lại mắc nên người mua không được lợi trong khi các công ty giao nhận phất lên ào ào. Các công ty thương mại điện tử chọn giao hàng qua hệ thống bưu điện nhà nước đồng thời tìm cách thương thảo hợp đồng giao nhận sỉ với các đại gia giao nhận (phải chấp nhận nếu không thì bưu điện nhà nước sẽ thế chân một phần)
- Vì ở Mỹ mua hàng online rẻ hơn mua hàng ngoài chợ, cộng với chuyện tiết kiệm chi phí cơ hội (không mất thời gian đi lùng sục món hàng, không phải chạy ra cửa hàng, …). Dần dà sự khác biệt nầy giúp A. đánh bại các cửa hàng bán lẻ đến mức ngay cả đại gia bán lẻ Walmart cũng khốn đốn. Các cửa hàng bán lẻ dần dà bắt chước A., cho phép người ta đặt hàng trực tuyến nhưng nhận hàng tại cửa hàng để qua mặt cái vụ thuế bán lẻ. Nhưng nhà nước Mỹ (tiểu bang) bắt ép Amazon thâu thuế bán lẻ. Sau vài lần phản đối và sau khi thấy rằng các cửa hàng bán lẻ phá sản cả đống, và khi thấy rằng thế đứng của họ là vô địch lúc nầy thì Amazon chịu thâu thuế bán lẻ cho các nhà nước tiểu bang
- Hệ thống chi trả bằng thẻ tín dụng – giao dịch điện tử - ở Mỹ đã quá phổ biến vào những năm 90s của thế kỷ trước. Không có nó, thì thương mại điện tử không thể phát triển nhanh được. Đây là một yếu tố tối quan trọng; nói cách khác môi trường kinh doanh đủ điều kiện cho một hình thức kinh doanh mới ra đời
- Amazon ngoài chuyện kinh doanh của chính nó, còn biến nó thành một sàn giao dịch cho phép hàng triệu người bán lẻ khác gia nhập sử dụng các cơ sở số liệu, phương tiện giao nhận, hệ thống chi trả, … giúp cho chuyện kinh doanh lan rộng nhanh chóng rẻ tiền (economy of scales)
- Cơ sở dữ liệu khách hàng của Amazon là một trong những dữ liệu có lẽ đơn giản và an toàn đáng kể giúp tạo niềm tin cho các người tham gia.

Thành công của Amazon là nhờ vào
1) Quyết định khởi nghiệp đúng đắn giúp họ sống sót và tích lũy tư bản; tóm bắt cơ hội “không thuế trên hàng mua bán trực tuyến” những năm 90s để bán rẻ hơn các cửa hàng bán lẻ
2) Môi trường kinh doanh chín muồi với giao dịch điện tử và miễn thuế những năm 90s
3) Phát triển thành một sàn giao dịch (open source) làm cho ai cũng có phần nên hạn chế sự ra đời của kẻ cạnh tranh mà lại thu hút người tham gia và làm cho chi phí kinh doanh trên Amazon rẻ hơn các đối thủ

Đông Tà đây là công ty Alibaba. Công ty nầy cái gì cũng bán, bán luôn cả vật tư máy móc sản xuất. Họ đi sau Amazon, nhưng mô hình kinh doanh thì một phần giống các công ty thương mại điện tử khác, một phần họ đang tìm những đột phá khác một phần để bổ sung khiếm khuyết do tình trạng chậm tiến gây ra lúc trước, phần khác tạo điều kiện nhảy vọt khi cuộc chạy đua vừa mới bắt đầu.

Alibaba tuy là công ty tư nhân nhưng được hậu thuẫn gián tiếp của nhà nước TQ để giúp họ cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Họ chọn đăng ký ra cổ phiếu ở Mỹ giúp họ tìm được một số vốn khổng lồ trong thời gian cực ngắn. Và với số vốn lớn họ thừa thế đầu tư vào hàng loạt các dịch vụ vệ tinh lẫn các ngành mới nổi ở TQ.

Kinh tế TQ sau vài thập kỷ thuần về sản xuất và xuất khẩu ra nước ngoài, đã vươn lên hàng thứ hai trên thế giới. Giai đoạn chuyển tiếp phải làm là kích thích tiêu dùng nội địa (domestic consumerism) (một nền kinh tế lớn như vậy không thể tiếp tục chỉ xuất khẩu mà không làm mất cân bằng kinh tế toàn cầu vì thế giới không thể tiếp tục hấp thụ lượng sản phẩm sản xuất của TQ). Cùng với sự lớn mạnh, tích lũy tư bản, dành dụm của người dân, niềm tự hào của dân tộc, làm cho TQ muốn có những cái riêng của họ. Alibaba ra đời trong bối cảnh đó (hai lần trước không thành công vì điều kiện chưa chín muồi)

Để thành công trong thương mại điện tử, hệ thống giao dịch điện tử là không thể thiếu. Cho đến khi Alibaba ra đời TQ chưa có một hệ thống giao dịch điện tử hữu hiệu. Nếu dùng hệ thống thẻ tín dụng của Mỹ như Visa/Master/Discovery/American Express thì phải trả phí vài phần trăm trong khi không có mấy người dân có tài khoản ngân hàng. Sau nhiều năm TQ đã liên tục cố gắng thuyết phục thế giới chấp nhận đồng Nhân Dân Tệ như đồng tiền chuyển đổi được. Mong muốn bước một đó đã thành hiện thực khi Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Thế Giới đồng ý chấp nhận đồng Nhân Dân Tệ như một trong những đồng tiền chính. Alibaba liền thành lập hệ thống chi trả Alipay dùng Nhân Dân Tệ làm nền phía sau. Họ rồi sẽ thuyết phục các quốc gia khác xử dụng Alipay để chi trả. Khi đó Alipay sẽ đối đầu trực tiếp với các công ty thẻ tín dụng khổng lồ của tây phương.

Giờ đây Alibaba là một công ty thương mại điện tử khổng lồ của Trung Quốc, bán thượng vàng hạ cám, đầu tư trong nhiều ngành khác nhau. Tuy một công ty khác của TQ là TenCent có tầm cỡ đáng kể ở TQ, nhưng Alibaba có nhiều ảnh hưởng quốc tế hơn. Alibaba đang đi đầu thực hiện nhiều chức năng quan trọng cho TQ như giúp tạo ra chuỗi cung ứng hiệu quả, dành thị trường tương lai cho TQ, giúp giải phóng kinh tế tài chánh khỏi lệ thuộc vào các công ty thẻ tín dụng nước ngoài, giúp thế giới quen với đồng Nhân Dân Tệ, ... Mô hình kinh doanh của họ không khác người khác nhưng họ đang làm những thay đổi đáng kể cho TQ khi họ tạo ra những thứ mà TQ chưa có.
Thành công của Alibaba là nhờ vào
1) Ra đời đúng lúc khi xã hội kinh tế TQ bắt đầu chuyển biến từ sản xuất xuất khẩu sang sản xuất tiêu dùng nội địa
2) Nhanh chóng cho ra đời hệ thống chi trả điện tử của chính họ, bỏ qua các hình thức chi trả khác của các quốc gia tây phương
3) Bán cả vật tư máy móc sản xuất giúp chuyển một nền kinh tế khép/nhà nước chủ đạo thành một nền kinh tế mở/tư nhân hóa nhanh. (Vì thế người tiêu dùng chấp nhận nhanh, nhà nước cũng … hài lòng – Nếu Alibaba giúp cho thế giới quen thuộc nhanh hơn với đồng Nhân Dân Tệ thì có lẽ họ vui mừng khôn xiết. Một khi nhà nước mà hài lòng thì …)

Mẹ Của Tất Cả

- Thương mại điện tử là một hình thức thương mại trực tuyến dùng hệ thống internet để chuyển giao thông tin, dùng hệ thống giao nhận trực tuyến hoặc xe cộ/tàu thuyền/máy bay, và hệ thống chi trả điện tử
- Thương mại điện tử tạo ra một chuỗi cung ứng (supply chain) hiệu quả hơn rất nhiều so với thương mại kiểu cũ
- Chuỗi cung ứng trở nên hiệu quả hơn qua việc 1) chuỗi được thấy rõ bởi mọi người, 2) sự trục trặc (mất cân đối cung cầu) sẽ được phát hiện nhanh và sửa đổi nhanh – làm cho nền kinh tế hiệu quả hơn, 3) mở rộng gấp nhiều lần, 4) Chi phí rẻ hơn nhiều
- Một chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ làm chi phí cơ hội cho toàn xã hội thấp hơn khi những nguồn lực bỏ không sẽ tìm được ứng dụng, hàng hóa mau tới tay người cần, hàng hóa nhanh chóng đi từ nơi thừa sang nơi thiếu với chi phí thấp nhất, …
- Vì là hình thức thương mại nên giá trị gia tăng do thương mại điện tử tạo ra không đáng kể so với chi phí cơ hội (Thương mại là mua bán, hàng đổi hàng hay hàng đổi tiền ngang ngửa)
- Điều then chốt đóng góp vào sự vận hành hữu hiệu của thương mại điện tử là hệ thống chi trả giao dịch điện tử
- Các công ty thẻ tín dụng của Mỹ nắm phần lớn hệ thống chi trả điện tử ở Mỹ và thế giới. Hệ thống chi trả điều hành bởi các công ty nầy vẫn rất hiệu quả vào lúc nầy vì những yếu tố an toàn mà họ đảm bảo. Đổi lại họ được đền bù vài ba phần trăm của thương mại (con số rất lớn !) Vì thế so với các quốc gia khác như Nhật hay Đại Hàn thì Mỹ vẫn đang đi sau trong chi trả qua smart-phone
- Alipay, Apple-Pay hay các hệ thống khác là để muốn chen chân vào hệ thống chi trả điện tử, muốn định vị họ trong hệ thống tương lai, muốn dành một phần bánh từ các công ty thẻ tín dụng, ...
- Trong những năm sắp tới, các hệ thống chi trả, giao nhận sẽ phải cải tiến liên tục để hiện hữu ở nhiều nơi hơn, rẻ hơn, nhanh hơn, an toàn hơn, …


Kết Luận

Các quốc gia tiên tiến lẫn đang phát triển đang đứng ở ngưỡng cửa của tái cấu trúc kinh tế của họ về mặt chiến lược do những thay đổi lớn mà thế giới đang chứng kiến như sự thay đổi khí hậu và sự thay đổi của công nghệ thông tin, đặc biệt là thông tin vô tuyến. Những thay đổi sắp tới nhằm tăng năng suất đáng kể trong nền sản xuất khi toàn hệ thống sẽ phải liên lạc với nhau, các phần tử nhàn rỗi sẽ được phát hiện và tận dụng để sản sinh của cải vật chất (lý thuyết !!! Chờ xem thực tế sẽ đi về đâu !) Thương mại điện tử có lẽ sẽ là một ngành khai thác tận dụng triệt để hệ thống thông tin mới thế hệ mới

Đừng nhầm lẫn phương tiện và cứu cánh. Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, người ta trông cậy vào hệ thống, phương tiện truyền thông như một phương tiện để đạt được cái cứu cánh; cái cứu cánh đó là một hệ thống sản xuất mở, một xã hội nhiều tương tác hơn, một nền kinh tế năng động hơn nhanh chóng phát hiện các phần tử nhàn rỗi rồi đưa nó vào hoạt động, phát hiện các phần tử phân bố bất hợp lý rồi chỉnh sửa chúng nhanh chóng.

Giống như mọi thứ khác, giai đoạn đầu của cách mạng công nghiệp 4.0 có lẽ luôn có những thứ ngáo ộp, huyễn hoặc, tưởng tượng điều thần kỳ sẽ đến, hay thần kỳ sẽ đến chỉ nhờ những thay đổi kỹ thuật/công nghệ. Amazon và Alibaba là hai câu chuyện kể về hai kẻ đi đầu đã có những khởi nghiệp gian nan, nhưng với đầu óc tỉnh táo, thực dụng, thuận theo thời thế, tìm cách bứt phá với những giải pháp hay hơn rẻ hơn. (Không có hệ thống chi trả điện tử sẵn sàng hay điều khoản miễn thuế cho thương mại điện tử những năm 1990s ở Mỹ, không chắc Amazon có thể phát triển nhanh như đã thấy. Không có sự chuyển biến của xã hội, kinh tế TQ từ sản xuất sang tiêu dùng thì cũng không chắc Alibaba lên nhanh như vậy) Amazon và Alibaba đã định vị họ thích hợp để khởi nghiệp và sống sót; nay họ đang định vị họ như kẻ đi đầu trong cuộc chạy đua mới ! Sự thành công của Amazon và Alibaba không xuất phát từ chỉ giải pháp kỹ thuật mà xuất phát từ chọn lựa chiến lược kinh doanh đúng đắn khi nhà nước/xã hội đang tạo ra môi trường kinh doanh thỏa đáng.

Thế giới đang chuyển biến căn cơ trước nạn thay đổi khí hậu; Từng quốc gia lớn đang thấy nhu cầu dịch chuyển (structural change) trong cấu trúc kinh tế của thế giới và của quốc gia họ. Các cuộc thay đổi cấu trúc kinh tế đều rất tốn kém vì nó là sự đào thải cái cũ, xây cái mới. Tư bản đang (2017/2018/) chảy nhanh và mạnh đến nơi chúng sẽ cần phải đến trong những năm sắp tới. Quốc gia nào phân bổ tư bản sai có lẽ sẽ ngồi ngoài rìa. Ngay cả khi phân bổ tư bản đúng, thì đồng tiền "lớn" thường vẫn chạy về chỗ nó sẽ đem lại lợi nhuận nhiều nhất vào một lúc (bang for the buck), trong khi các nơi khác đành phải đợi đến lượt (lọt sàng xuống nia).


PS.

Ý Tưởng 2-Xu Của Tui

- Muốn đi xa thì nên biết mình muốn đi đâu. Nếu đi chỉ vì thấy người khác cũng đang đi thì sẽ tốn nhiều sức mà không chắc đi được xa
- Đi nhanh/đi vội không bảo đảm sẽ đi được xa hay tới đích
- Không chuẩn bị hành trang thì có lẽ sẽ lỡ cơ hội khi cần phải đi
- Hành trang khi đi là cơm gạo, mắm muối, nước uống, tiền bạc. Còn nếu tiền đã lỡ bỏ vào
... "cái nhà" (bất động sản), thì chịu
- Khi thương mại điện tử đang bành trướng, người ta xây nhà kho, băng chuyền, hệ thống lọc lựa, sử dụng robot, sắm xe cộ giao nhận nhanh. Các trung tâm thương mại hoành tráng, có người đứng mở cửa không còn là điều mong muốn trong thương mại điện tử
- Sử dụng từ "Số Hóa" (digitize) có lẽ rất là không đủ thước tấc (under-estimate) cho những thay đổi đang xảy ra vì:
1) Thế giới người ta đã số hóa từ 5, 7 chục năm rồi - dùng nó chẳng hóa ra mình đang tung hô là mới chuyện xưa hàng nửa thế kỷ,
2) "Số Hóa" có ý nghĩa kỹ thuật nhiều hơn ý nghĩa kinh tế,
3) Hệ thống chi trả điện tử, hệ thống giao dịch điện tử ẩn chứa hàng bao thứ phức tạp (như thay đổi tư duy, luật pháp, phương pháp, phân bố tư bản, ... ) hơn cái chuyện số hóa - (chỉ là một cái cây trong khu rừng !) Nhìn từ khía cạnh khác, một thay đổi trong cấu trúc kinh tế không thể thực hiện được chỉ từ một thay đổi kỹ thuật. Một khái niệm "Số Hóa" ở đây không giúp người ta đánh giá hay dự trù hết những công việc cần phải làm, mà lại dễ gieo tâm lý ỷ lại vào một giải pháp kỹ thuật (đã có từ lâu đời, và đã phổ biến nhiều nơi từ đời tám hoánh nào rồi, hic) như một liều thuốc vạn năng cứu chữa mọi khiếm khuyết
4) Và theo đó là cả một nền kinh tế tài chánh dịch chuyển từ giao dịch tiền mặt sang giao dịch điện tử; một thay đổi cấu trúc có tính cách chiến lược (structural change) như vậy không thể chỉ là "Số Hóa" hay do số hóa mà ra
5) Trong chuyện chuyển đổi cấu trúc kinh tế kiểu nầy, "Số Hóa" được dùng một cách thiên vị, tâng bốc các nhà kỹ thuật mà bỏ qua công sức của các nhà làm chính sách, làm luật, nhà quản lý, người tiêu dùng mạnh dạn thử nghiệm điều mới
- Con người, mong muốn làm chuyện phải/hợp lý, suy nghĩ/tính toán hợp thời của họ, mới là điều chính; giải pháp kỹ thuật chỉ là điều phụ dùng để phục vụ cho cái mong muốn của con người. Quyết định thay đổi thì chỉ có hai (yes/no) nhưng giải pháp kỹ thuật thì vô số.



Edited by ntd 2018-03-04 12:34 PM
Top of the page Bottom of the page
Nguye^n
Posted 2018-02-12 11:20 AM (#123763 - in reply to #123762)
Subject: RE: Linh tinh


Expert

Posts: 2923
2000500100100100100
Location: Monterey Park, CA
Vậy anh Dũng cho ý kiến: nếu như bây giờ có dư chút tiền không bỏ vô cái nhà, hay lớn tuổi con trưởng thành rồi bán cái nhà để downsize thì dùng số tiền đó đầu tư vô chỗ nào vừa an toàn vừa có lợi? Đừng nói là mua stock Amazon hay mua municipal bond nghe cha nội! Cám ơn nhiềụ
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2018-02-26 2:47 PM (#123767 - in reply to #123763)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Nguye^n - 2018-02-12 11:20 AM

Vậy anh Dũng cho ý kiến: nếu như bây giờ có dư chút tiền không bỏ vô cái nhà, hay lớn tuổi con trưởng thành rồi bán cái nhà để downsize thì dùng số tiền đó đầu tư vô chỗ nào vừa an toàn vừa có lợi? Đừng nói là mua stock Amazon hay mua municipal bond nghe cha nội! Cám ơn nhiềụ


Hmm, hay cho anh Nguyên, người đã "có tuổi" rồi, con đã lớn, lại có "dư chút đỉnh" mà còn chưa chịu nghỉ hả ?

Anh Nguyên đọc email nhe !


Edited by ntd 2018-02-26 4:17 PM
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2018-03-15 8:34 PM (#123770 - in reply to #123767)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Nhân đọc được mấy cái nầy

https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/uber-quan-nhu-t...
https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/grab-quan-nhu-c...
https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/thuong-mai-dien-tu/amazon-mu...
https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/van-den-cua-par...
https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/bat-dong-san/san-dia-oc-tuye...

Theo đó, 1) Amazon chuẩn bị đặt chân vào VN, 2) Grab/Uber than phiền về chuyện bị đối xử như xe taxi, 3) Trung tâm thương mại P. đang đóng cửa, 4) Thị trường địa ốc VN lại tiếp tục nóng và nóng hơn

Khái Niệm Căn Bản Cần Biết

Wikinomics – Wiki: kinh tế/kinh doanh dựa trên nguồn mở
Gig Economy – tạm dịch kinh tế hợp-đồng-độc-lập-ngắn-hạn: một môi trường kinh doanh chỉ dựa vào hợp đồng ngắn ít ràng buộc giữa những bên tham gia độc lập, kiểu làm chuyến nào xong chuyến đó, không có ràng buộc trách nhiệm/quyền lợi quá mỗi lần

Bàn Luận Của Tui

Vài tháng sau khi ông chủ Alibaba đi tua ở VN, thì Amazon tuyên bố sẽ tham gia vào thị trường VN.

Alibaba đang mở rộng mạng lưới thương mại tới vùng Đông Nam Á. Họ nhanh chóng bù đắp những khiếm khuyết như tạo ra hệ thống chi trả điện tử như Alipay đồng thời vẫn sử dụng hệ thống chi trả qua thẻ tín dụng phát hành và vận hành bởi các công ty phương tây.

Amazon sau những thành công đáng nể ở Mỹ đặc biệt là kể từ hơn một năm nay, đang có những dự định rất tham vọng khác. Họ đang chuẩn bị nhảy vào VN. Đây là một kế hoạch kinh doanh rất có ý nghĩa cho Amazon và cho cả VN, đặc biệt là sau khi các quốc gia Châu Á/Thái Bình Dương vừa mới ký hiệp định mậu dịch tự do.

Cái sức mạnh huyền thoại của Walmart ngày xưa khi nó đánh bại tất cả các công ty bán lẻ khác là giá thấp nhất. Giá thấp nhất đạt được nhờ nhiều yếu tố, trong đó có mạng lưới cung cấp và phân phối cực tốt.

Amazon đang trở thành một Walmart điện tử mà lại hiệu quả hơn Walmart. Như đã được biết được hiểu được cảm nhận, kẻ cạnh tranh hữu hiệu là kẻ có chuỗi cung ứng (supply chain) hữu hiệu.


VN Được Gì ?

Amazon đã trở thành hệ thống thương mại điện tử toàn cầu và có lẽ hùng mạnh nhất, hôm nay và có lẽ cũng trong tương lai sắp tới. Cái đáng kể nhất là nó đã/đang xây dựng chuỗi cung cấp toàn cầu hữu hiệu. Làm sao mà gọi là hữu hiệu? Hữu hiệu kiểu nào?

…….

Hiệp Định Thương Mại Tự Do Châu Á Thái Bình Dương hiện nay bao gồm Úc, Canada, và các quốc gia khác. Trong tương lai, Mỹ có lẽ sẽ tái gia nhập. (Điều thú vị là phần lớn Việt Kiều sinh sống ở cả ba quốc gia Mỹ/Úc/Canada nầy.) Các công ty sản xuất VN đã tốn rất nhiều công sức tiếp cận các thị trường thế giới nhưng sự thành công rất hạn chế. Các công ty VN không có năng lực làm giá vì không có khả năng phát hiện biến động cung cầu, không tạo ra được món hàng của chính mình mà được người tiêu dùng thế giới chấp nhận, ... (Hmm, mấy cái nầy cần một bài viết khác !) Năm nầy qua năm khác, các công ty sản xuất ở VN luôn ở thế bị động, trông chờ vào các đơn đặt hàng từ các công ty nước ngoài. Nhiều công ty VN sản xuất cho xuất khẩu nhưng lại không nằm trong chuỗi cung ứng của thế giới. (Đừng nhầm lẫn năng lực làm giá – pricing power – với việc tăng giá bắt chẹt – price gouging)

Nếu VN (...) đánh giá đúng mức ý nghĩa của sự kiện nầy và các cơ hội mà nó đem đến, và chuẩn bị một cách thích hợp thì sẽ rất có lợi cho VN trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hah, hah, tuy nhiên sự việc không chỉ dừng ở chuyện nhấp con chuột để mua một món hàng. Để tận dụng hết những khả năng mà cơ hội nầy đem đến thì VN có lẽ phải làm cả tỉ thứ chuyện. Có lẽ VN sẽ có 2 – 3 năm để chuẩn bị (phải chạy vắt giò lên cổ ). Đây là một thời điểm cực tốt để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu (vì cơ hội nầy 1) không phải lúc nào cũng sẵn, 2) ở mức bắt đầu và 3) VN đang ở vị trí thương thảo ngang cơ với người khác !!!)

Sức Mạnh Cạnh Tranh Là Nhờ Vào Chuỗi Cung Ứng Hữu Hiệu

Một trong những lợi thế của Thương Mại Điện Tử là tiết kiệm Chi Phí Cơ Hội. Hệ thống giao thông không có, mất nhiều giờ để đi lại, giao dịch chậm trễ, … làm tăng chi phí cơ hội. Sự phân bố không hợp lý của các cơ sở sản xuất, sự rườm rà, sai sót của các thủ tục giao nhận … cũng làm cho chi phí cơ hội gia tăng. Hmm, nếu chi phí cơ hội không thể được tiết kiệm thì thương mại điện tử cũng không hơn được thương mại cửa hàng bao nhiêu. (Tức là xây dựng thương mại điện tử, nhưng không chịu xây dựng chuỗi cung ứng hữu hiệu thì thương mại điện tử vô dụng)

Uber/Grab đang đem lại dịch vụ taxi hôm nay, và có lẽ sẽ đem lại dịch vụ khác nữa ngày mai. Người ta không có phán xét sai khi xếp loại nó là taxi hôm nay vì họ đang phục vụ taxi. Ngày mai nếu họ đem lại dịch vụ khác thì xã hội/nhà nước sẽ cần hoan hỉ phân loại dịch vụ mới một cách thích hợp cho họ. Đó có lẽ là câu trả lời thích hợp cho lời than phiền của họ hôm nay (hah, hah) Các phần mềm điều độ (logistics) của Uber/Grab có lẽ tìm được ứng dụng nhiều trong chuỗi cung ứng.

Trong tương lai nếu thương mại điện tử có sự hỗ trợ của hệ thống giao nhận nhanh chóng, hệ thống chi trả an toàn thì họ có lẽ sẽ trở thành vô địch. Lúc đó, các cửa hàng bán lẻ hoành tráng sẽ khó có thể kéo người ta đến. (hah, hah, đi cửa hàng có lẽ là chỉ đi dạo, …)

Để Xây Dựng Chuỗi Cung Ứng Hữu Hiệu

...............

Kết Luận

Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, tuy Mỹ đang đi thụt lùi do những chính sách bảo hộ của chính phủ ông T., sự tiến tới thương mại toàn cầu sẽ khó mà đảo ngược được nữa. Sự tồn tại của internet, mạng lưới viễn thông vô tuyến, rồi sự tự do dịch chuyển của tư bản, các mạng xã hội, ... là những nền tảng chắc chắc cho thương mại toàn cầu không rào cản. Và có lẽ nền thương mại đó sẽ chủ yếu dựa trên thương mại điện tử.

Thương mại điện tử sẽ chỉ có thể phát triển tốt nếu chuỗi cung ứng được xây dựng tốt. Các tập đoàn kinh doanh toàn cầu đang hối hả tính toán, hoạch định, liên kết, cạnh tranh, mua bán, sáp nhập, đầu tư để định vị họ trong cuộc chạy đua đang đến. Còn sớm để biết ai sẽ chiến thắng trong những năm sắp đến, nhưng đã bắt đầu trễ cho những ai chưa chuẩn bị.

Trong vài chục năm vừa rồi tiến bộ trong các công nghệ truyền thông, thu thập/phân tích số liệu (data mining), có lẽ sẽ làm cho những công ty sở hữu số liệu và sử lý số liệu tốt thành những công ty rất đáng gờm. Trong khi đó, tư bản cũng đang rất sẵn. Cuộc chạy đua chiếm đầu cầu trong thương mại điện tử toàn cầu, thiết lập chuỗi cung ứng hiệu quả toàn cầu có lẽ sẽ xảy ra nhanh hơn dự đoán (sớm hơn vài năm !)



Edited by ntd 2018-03-19 1:57 PM
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2018-03-28 2:19 PM (#123772 - in reply to #123770)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Nhân đọc được mấy cái nầy

http://cafef.vn/cuoc-chien-taxi-truyen-thong-uber-grab-khong-cam-th...
http://www.thesaigontimes.vn/td/270615/Xem-xet-van-de-tap-trung-kin...
https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/xem-xet-dau-hieu-doc-q...

Theo đó:
“ … Một chuyên gia trong lĩnh vực quản lý cạnh tranh nhận định, việc một doanh nghiệp mua lại toàn bộ hoạt động kinh doanh của đơn vị khác cùng lĩnh vực đã có dấu hiệu của tập trung kinh tế và nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh.
Còn theo ông Tuấn, việc thị phần kết hợp của Uber, Grab chiếm trên 50% trên thị trường liên quan như vậy có thể cũng thuộc trường hợp bị cấm theo quy định của Luật Cạnh tranh. …”

Uber/Grab – Kẻ Đi Người Ở

Hah, vậy là Grab vừa mua mảng kinh doanh của Uber ở khu vực Đông Nam Á. Và người VN lo sợ rằng Grab sẽ độc quyền kinh doanh ở … VN

Mẹ Của Tất Cả

- Trong kinh doanh có cạnh tranh tốt và cạnh tranh xấu
- Trong kinh doanh có độc quyền chấp nhận được và độc quyền không chấp nhận được
- Năng lực làm giá (pricing power) là khả năng thay đổi giá cả và buộc người khác phải theo
- Độc quyền không chỉ được xem xét từ khía cạnh con số thị phần, mà còn từ nhiều khía cạnh khác như năng lực làm giá, người hưởng lợi, …
- Cái đích cuối cùng không phải là độc quyền, mà là cân bằng giữa lợi ích và chi phí cơ hội
- Cạnh tranh tốt sẽ dẫn đến chất lượng hàng hóa/dịch vụ được nâng cao, giá rẻ hơn so với không có cạnh tranh. Chi phí cơ hội cho xã hội sẽ thấp, và kinh tế sẽ tăng trưởng lành mạnh và ổn định căn cơ (sustainable)
- Cạnh tranh xấu sẽ dẫn đến ăn thịt lẫn nhau (cannibalize) – không ai có lời; hoặc giá thì rẻ (tưởng là tốt) nhưng chất lượng cũng đi xuống; bên cung thiệt hại mà bên cầu cũng thiệt hại. Hậu quả là chi phí cơ hội sẽ cao; kinh tế tăng trưởng bấp bênh, khó dự đoán, làm các chính sách vĩ mô trở nên vô hiệu
- Các ngành nghề kinh doanh thường có cái gọi là rào cản kinh doanh. Những cái rào nầy có thể sờ được hoặc không sờ được. Những cái rào nầy có thể là qui định kinh doanh, mức lời lỗ, nhân lực tham gia, địa điểm
- Rào cản kinh doanh cao quá thì ít kẻ tham gia. Rào thấp quá thì nhiều kẻ tham gia.
- Nhiệm vụ của chính phủ và các nhà làm chính sách là xác lập độ cao thích hợp của cái rào để tạo sự cạnh tranh lành mạnh


Bàn Luận Của Tui

Các Khái Niệm Căn Bản Cần Biết

Kinh doanh thì phải có lời thì doanh nghiệp mới có lý do tồn tại. Mức lời thấp nhất là huề vốn (sau khi đã trả lương cho chính mình !). Trong cơ chế thị trường tự do, mức lời có thể cao trong ngắn hạn. Khi mức lời cao thì sẽ có người khác nhảy vào. Do cạnh tranh mức lời sẽ đi xuống và khi đó sẽ có ít người muốn nhảy vào. Vì thế mức lời sẽ nằm ở mức độ vừa phải trong dài hạn – hơn một chút hoặc sấp xỉ bằng chi phí cơ hội !!!

Độc quyền là một khái niệm phức tạp và không dễ được đồng ý bởi các bên. Nó gồm có 1) xác định thị phần, 2) xác định năng lực làm giá, 3) xác định rào cản pháp lý, 4) xác định mức phản ứng ngược/sự chống đối lại, 5) xác định mức lời, 6) xác định mức lời được phân chia thế nào, 7) xác định là có món khác thay thế không, 8) xác định cân bằng chi phí cơ hội, và lợi nhuận, …

Các Thực Tế Căn Bản Minh Họa

Phần mềm quản lý máy tính của Microsoft được cài đặt trên hơn 90% máy tính trên thế giới, nhưng người ta không triệt hạ Microsoft vì độc quyền. Ngày trước người ta cũng lôi nó ra tòa kiện nó độc quyền nầy nọ. Sau khi Microsoft thỏa thuận thi hành những điều mà người ta yêu cầu thì các chính phủ/người tiêu dùng để cho nó yên.

PS. Lúc mà người ta lôi Microsoft ra tòa vì nó “âm mưu” không cho phép đối thủ cài đặt những sản phẩm cạnh tranh mà Microsoft cũng có. Sau khi Microsoft đồng ý gỡ bỏ rào cản và cho phép cài đặt sản phẩm cạnh tranh, thì mọi người OK.

Các công ty dược phẩm ở Mỹ khi phát minh ra một loại thuốc nào đó, thì họ được sở hữu bằng phát minh trong 17 năm, và độc quyền kinh doanh loại thuốc đó. Các chính phủ hiểu rằng đây là một hình thức độc quyền kinh doanh nhưng chi phí cơ hội của không có loại thuốc đó (mạng người) cao hơn lợi nhuận mà công ty thu được, nên các công ty dược phẩm được phép độc quyền trong các năm đó.

PS. Tìm kiếm một loại thuốc mới rất khó khăn (tỉ lệ thành công ước khoảng 10% ?), tốn thời gian và tiền bạc. Không có lợi nhuận khả dĩ thì các công ty không làm, và xã hội sẽ không có thuốc trị bệnh.

Các công ty dịch vụ tiện ích điện/nước/khí đốt (utility) ở Mỹ cũng kinh doanh theo kiểu độc quyền. Mỗi địa phương chỉ có một nhà cung cấp. Các công ty nầy của tư nhân nhưng hoạt động với sự kiểm soát giá cả chặt chẽ của chính phủ khu vực. Họ cùng xác định rằng 1) cạnh tranh không đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lẫn người cung cấp, 2) người cung cấp phải được lãi, 3) mức lãi được thỏa thuận giữa hai bên cung cầu mà nhà nước là người đại diện cho bên cầu – (không có móc ngoặc !)

PS. Đầu tư cơ sở hạ tầng cực kỳ tốn kém, chi phí cao không cho phép xây dựng đơn vị nhàn rỗi (idle units) hay song song cạnh tranh. Các công ty tiện ích gần như độc quyền bán điện/nước/khí đốt cho dân. Họ sẽ mua những thứ nầy từ các nguồn cạnh tranh, rồi trình bày cơ cấu giá thành cho nhà nước để được điều chỉnh giá bán mỗi năm.

Những năm 1970s – 1980s, khi các công ty xe hơi của Nhật đánh bại các công ty xe Mỹ, thì nhà nước Mỹ tăng thuế hải quan để tạo một thuận lợi cho các công ty nội địa, cho phép họ thời gian để tái xây dựng lại guồng máy sản xuất. Sau vài ba năm, khi các công ty xe Mỹ có thể phục hồi lại được thì mức thuế hải quan được hạ xuống trở lại.

PS. Nếu tăng thuế hải quan vĩnh viễn thì chi phí cơ hội cho toàn xã hội sẽ tăng cao và làm cho nền kinh tế kém hiệu quả

Vậy thì cái mục đích tối hậu của việc xác định một phương thức kinh doanh có độc quyền hay không, và hình thức độc quyền đó có nên được phép duy trì hay không (cái cứu cánh) là xác định cân bằng giữa chi phí cơ hội và lợi ích đem lại. Hành xử độc quyền kinh doanh không phải dễ xác định một cách thỏa đáng trong thực tế và lại càng khó hơn trong chuyện khống chế nó để có lợi cho toàn xã hội. Các vụ thưa kiện độc quyền ở Mỹ kéo dài hàng năm và không có gì bảo đảm bên thưa (quở người ta là độc quyền) sẽ thắng. Sau nầy nhà nước Mỹ xem xét khả năng độc quyền trước khi cho phép một công ty tầm cỡ sáp nhập với một công ty khác.

Độc quyền có hại là khi một cách kinh doanh nào đó được thực hiện để 1) Bảo vệ lợi ích của chính thể chế đang thực hiện cách kinh doanh đó bất kể lợi ích xã hội, 2) Ngăn cản sản phẩm/dịch vụ với chất lượng cao hơn mà giá cả thấp hơn tham gia thị trường. (cả hai trường hợp đều sẽ dẫn đến chi phí cơ hội vượt quá lợi ích mà nó đem lại)

PS.
1) Nếu công ty nào đó san sẻ lợi ích cho cộng đồng người tham gia (stakeholder), thì không phải là độc quyền có hại;
2) Ngày xưa khi thông tin và tư bản còn hạn hẹp, thì sản phẩm tốt giá rẻ có thể không đến được khách hàng. Ngày nay, với internet/điện thoại thông minh/kinh doanh toàn cầu … chuyện nầy khó thực hiện

Các nước đã phát triển đã đi qua và có kinh nghiệm trong chuyện nầy. Họ thường chọn các bước đi thận trọng và lắng nghe từ nhiều phía trước khi quyết định. Người ta không nhào vào gán một công ty là độc quyền khi nó đang “charge” người mua với giá rẻ hơn và tiện lợi hơn do họ quản lý tốt hơn. Người ta chỉ bắt đầu xử nó khi nó thực hiện độc quyền có hại.

Và ngay cả khi đã phán quyết một loại hình nào đó là độc quyền, thì người ta cũng không chọn cấm mà đề nghị sửa đổi cách kinh doanh để cho phép cạnh tranh tốt hơn.

Tiến Bộ Công Nghệ Và Ảnh Hưởng Đến Kinh Tế Và Thực Tế Kinh Doanh

Do tiến bộ của công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vô tuyến, lúc nầy người ta có thể tiến hành kinh doanh ở bất cứ nơi nào với tốc độ gần như tức thời cho một số sản phẩm/dịch vụ.

Những người tiên phong đang có nhiều giải pháp thích ứng và áp dụng các tiến bộ công nghệ mới nầy. Khi một mô hình kinh doanh mới ra đời, người ta thường cho nó thời gian hội nhập, tương tác với các thực tế cũ đang hiện hành. Rồi “cơ chế thị trường tự do” và “bàn tay vô hình” sẽ giúp lọc lựa mô hình kinh doanh mới tốt đẹp cho xã hội.

Như thường lệ các chính phủ và các nhà làm chính sách vẫn luôn đi sau một bước. Thực tế sẽ giúp đúc kết những điều hay, loại bỏ những điều dở, và các nhà làm chính sách sẽ có đủ thông tin cần thiết để làm một chính sách khôn ngoan. Nói cách khác, khi chưa có đủ số liệu và nền tảng chưa rõ ràng thì người ta không làm chính sách qui định !!!

Trường Hợp Của Kinh Tế Chia Xẻ

Kinh tế chia xẻ là một mô hình kinh doanh mới ngày nay. Các nền tảng của nó là Wikinomics, Gig-Economics. Hay nói dễ hiểu hơn là một nền kinh tế kinh doanh đánh thức/phát hiện những đơn vị kinh tế nhàn rỗi hay chưa được sử dụng hết công suất để đưa vào hoạt động.

Như đã biết:

- Wiki dựa vào 1) Nguồn Mở, 2) Chia Xẻ, 3) Xem Xét Đồng Sự, 4) Hiện Diện Khắp Nơi.
- Gig-Eco: các thành viên tham gia là những phần tử độc lập không bị hợp đồng ràng buộc

Một mô hình kinh doanh thế nầy: đang mời gọi nhiều người tham gia (1), lại mở ra cho nhiều người cùng biết thông tin/cơ hội kinh doanh (2); người chộp được là người có chỉ số cạnh tranh cao nhất đáp ứng yêu cầu của khách hàng (3)

Hah, vậy thì cái mô hình kinh doanh của Uber/Grab/Lyft/ … là dựa vào kinh tế chia xẻ, “decentralized”, không thích hợp với các định nghĩa cũ về độc quyền. Ở đây, người hưởng lợi là người tham gia (lái xe lẫn hành khách); ở đây cạnh tranh giữa các phần tử tham gia cực kỳ khốc liệt và còn tùy thuộc vào may mắn (tình cờ ở gần người gọi xe, tình cờ người gọi xe có nhu cầu mà lái xe có thể đáp ứng, …) Và ở đây hàng rào gia nhập đã hạ xuống rất thấp để nhiều người tham gia và tăng mức cạnh tranh. Và ở đây chính Uber/Grab/Lyft … là người điều độ, là một người tập họp các phần tử độc lập với nhau (aggregator) chứ không phải là ông chủ, nhận phần trăm trên giá mà người chủ thật sự đòi được từ khách hàng. Người chủ thật sự là người tài xế, có toàn quyền quyết định muốn tiến hành giao dịch hay không.

Ở các nước tiên tiến, số người tham gia lái Uber/Lyft còn thấp vì cái lợi ích của việc tham gia nó chưa đủ bù đắp chi phí cơ hội của họ (hy sinh giờ nghỉ, hy sinh một công việc đang làm lương cao hơn, tiền được trả không bù đắp được những chi phí cơ hội gây ra trên họ, …) Tuy nhiên các công ty đang bắt đầu triển khai mô hình kinh tế chia xẻ trong thương mại và hứa hẹn những chuyện hay ho trong tương lai.

Trường Hợp VN

Taxi là phương tiện vận tải người từ địa điểm nầy sang địa điểm khác trong khoảng cách ngắn. Và đây là nền tảng quan trọng nhất để xem xét có cạnh tranh hay không.

Thị trường có vài ba hãng taxi truyền thống, có hàng ngàn (?) xe ôm, có xe bus công cộng, có hàng triệu xe hai bánh tư nhân và giờ đây có thêm xe trang-bị-công-nghệ (xe công-nghệ). Bản thân xe công-nghệ đã kinh doanh trên nền tảng cạnh tranh nội bộ rồi. Cạnh tranh khốc liệt kiểu nầy và với số lượng đáng kể các phương tiện thay thế thì khó mà gọi kinh doanh của xe công-nghệ là độc quyền.

Và khía cạnh độc quyền có lẽ không nên được xem xét khi chỉ dựa vào các công cụ tiện ích trang bị trên xe (hah, hah)

Kết Luận

Các giới làm quản lý hay các nhà làm chính sách cần hiểu biết nhiều về các phạm trù mênh mông của khái niệm chi phí cơ hội. Họ cần rút ra những thực tế áp dụng đúng đắn lành mạnh của chúng trong khi làm chính sách. Mỗi ngành nghề phát sinh những chi phí cơ hội khác nhau. Không hiểu rõ phạm trù chi phí cơ hội sẽ cho ra những chính sách chồng chéo khó thi hành, và thiệt hại chung cuộc cho nền kinh tế.

Thực tế kinh doanh độc quyền có hại sẽ dẫn đến chi phí cơ hội tăng cao nên nó sẽ bị loại bỏ một cách tự nhiên do người tiêu dùng đào thải hoặc qua luật lệ qui định của nhà nước.

Mô hình kinh tế chia xẻ còn mới và lúc nầy nó chưa bộc lộ xung đột xấu/đáng kể. Mô hình kinh doanh nào cũng có cái hay cái dở. Kinh tế chia xẻ khởi đầu trên nền tảng tốt giúp loại bỏ sự trùng lắp dư thừa, tức giúp cắt giảm chi phí cơ hội. Lúc nầy nhiều công ty đang phấn khởi tìm cách ứng dụng nó.

Người cung cấp dịch vụ chia xẻ chính là người quyết định có thực hiện giao dịch hay không. Uber/Grab/Lyft là các công ty điều độ phối hợp các phần tử độc lập nhưng họ không sở hữu các phần tử nầy. Các phần tử độc lập trong hệ thống nầy đang phải cạnh tranh khốc liệt với nhau để được chọn làm đối tác giao dịch. Khái niệm độc quyền kinh doanh đương thời có lẽ không áp dụng ở đây.

Trong tương lai, thực tế kinh doanh của các hãng điều độ nầy có thể khác khi họ phát triển tiến hóa hơn nữa. Vì thế thái độ chờ đợi, nghiên cứu, thu thập thông tin/số liệu về mô hình hoạt động kinh doanh mới nầy là điều thích hợp hơn trong thời buổi mới mẻ nầy. Kết quả hoạt động và ảnh hưởng của hình thức kinh doanh mới nầy sẽ được đúc kết để làm nền cho các qui định/luật lệ quản lý nó trong tương lai.

PS.
- Phạm trù Chi Phí Cơ Hội đôi khi còn gồm cả những thứ không tính được như cái gọi là "well-being" hay cái "giá trị utility" của mỗi con người. Nó cũng có thể bao gồm sự cân đong đo đếm của "externialities" có lợi và có hại ...
- Chi phí cơ hội thường không thể tính ra được như những con số cụ thể.


Edited by ntd 2018-04-01 1:45 PM
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2018-04-09 12:48 AM (#123775 - in reply to #123772)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Nhân đọc được mấy cái nầy

https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/uber-cham-dut-h...

https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/hang-hoa/cuc-canh-tranh-grab...

http://www.thesaigontimes.vn/td/271104/Philippines-Singapore-tam-th...

Theo đó:

"Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã yêu cầu công ty cung cấp các căn cứ này, đồng thời đánh giá kỹ thị phần kết hợp của Grab và Uber trên thị trường liên quan để bảo đảm tuân thủ các quy định về tập trung kinh tế của pháp luật cạnh tranh trước khi tiến hành giao dịch trên thị trường Việt Nam", đại diện Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng cho biết

Liên quan khoản tiền mà Cục thuế TP HCM đang truy thu Uber, Grab Việt Nam cho rằng họ không liên quan. "Đây là vấn đề thuộc về trách nhiệm của Uber. Grab không mua lại tư cách pháp nhân của Uber tại Việt Nam - đơn vị phải chịu toàn bộ trách nhiệm pháp lý giải quyết các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế với cơ quan thuế", đại diện Grab nói. Ngoài ra, mọi thắc mắc liên quan đến vấn đề này, đại diện Grab nói rằng, "xin vui lòng gửi tới Uber”.


Bàn Luận Của Tui

Hah, lúc nầy thì dường như chỉ có vài nước Đông Nam Á có những thắc mắc và than phiền về những hệ lụy của việc Uber rút khỏi thị trường Đông Nam Á. Uber đã rút khỏi Trung Quốc và Đông Nam Á, đang tính rút khỏi Ấn Độ.


Mô Hình Kinh Doanh Đi-Xe-Ké (Ride-Sharing)

Mô hình kinh doanh của Uber/Lyft/Grab/Didi-Chuxing/99 … là một mô hình kinh doanh “mới”. Như đã nói nó là mô hình kinh doanh dựa vào Wiki và Gig-Eco. Trong đó:
- Các công ty ở trên là những người tập hợp (aggregator); các cá thể độc lập tự chủ được tập hợp lại để kinh doanh chung
- Các cá thể độc lập tự chủ là những người chủ thật sự của phương tiện kinh doanh (chiếc xe của họ)
- Những người chủ nầy là những người có toàn quyền quyết định có tiến hành giao dịch (nhận chở hành khách) hay không
- Các công ty kể trên đang đóng vai trò cung cấp/cho thuê phần mềm. Và cái phần mềm giúp “aggregator” tuyển chọn những cá thể độc lập tốt, loại bỏ các cá thể độc lập không tuân theo luật chơi, và luật chơi đó được đồng ý bởi các cá thể tham gia (?!)
- Tóm lại: 1) chủ nhân thật sự là người chủ chiếc xe/các cá thể độc lập, 2) các công ty điều độ là những người tập hợp cho thuê phần mềm giúp điều độ xe, 3) quyết định giao dịch là của người chủ chiếc xe, 4) Tư cách pháp nhân (ký hợp đồng, thu tiền, bảo đảm hợp đồng thực thi theo yêu cầu) là người chủ chiếc xe chứ không phải “aggregator”, 5) Hình thức kinh doanh là chuyên chở khách, hợp đồng ở đây là thỏa thuận tư nhân, 6) Công ty điều độ khuyến khích nhiều phần tử độc lập tham gia vào – càng nhiều cá thể độc lập tham gia phục vụ, thì tiền họ thu được càng nhiều, 7) Nền tảng “Xem Xét Đồng Sự (peering - ở gần nhất, …) là thúc đẩy cạnh tranh,

Trong thực tế, tại sao hình thức kinh doanh nầy không gây rắc rối gì ở những nơi khác?
1) Hợp đồng giao dịch là giữa hai cá nhân độc lập theo thỏa thuận đồng ý riêng tư của hai bên. Hai bên sẽ tự nhận/tự lãnh trách nhiệm thi hành với nhau không dính dáng gì đến ai khác. Vì thế các nhà nước tôn trọng hợp đồng tư nhân mà không nhào vào quản chúng
2) Tiền người chủ xe thu được sau khi trả phí cho công ty điều độ sẽ được anh/chị ta đóng thuế thu nhập cá nhân
3) Tiền cho thuê phần mềm mà công ty điều độ thu được từ các cá thể độc lập sẽ được công ty khai báo tính thuế của công ty.
4) Hah, hah, không có cái luật nào bị phá vỡ, không ai trốn thuế, không có ai độc quyền ở đây; Các cá nhân tự do gia nhập hay rời bỏ tổ hợp. Không đi taxi thì người ta đi thứ khác (rẻ hơn taxi nhiều !). Vì thế chính quyền ở các quốc gia nơi có Uber/Lyft/Didi-Chuxing//99 không dự tính làm gì với các công ty nầy lúc nầy
5) Khi Cộng Đồng Châu Âu phán quyết là hình thức vận tải khách kiểu nầy vận tải taxi thì Tòa cũng không có làm mới hay đảo ngược cái gì ngoài chuyện bảo rằng “các anh vận tải khách kiểu nầy là giống như vận tải taxi, thì các anh phải ra vào, đi lại … như taxi … “ và người ta cần hiểu điều phán quyết theo nghĩa hẹp của nó . Phán quyết của Tòa ở các quốc gia tiên tiến nên được hiểu “tròn trịa” theo phán quyết

Hợp đồng mua bán/sáp nhập kiểu cũ là có mua có bán thật sự, có chuyển giao tài sản nhà/xưởng/máy móc/ phương tiện. Pháp luật hiện hành ở hầu hết các nước cho đến lúc nầy có thẩm quyền trên các vụ giao dịch chuyển giao tài sản vật chất. Nếu nhà nước không chấp nhận giao dịch thì tài sản không thể chuyển giao và công ty mua sẽ không được phép sử dụng tài sản của bên bán … Nói cách khác, các chính quyền có áp lực trên các công ty.

Hợp đồng "mua bán" của Uber và Grab không giống như hợp đồng mua bán thông thường. Nó là một thỏa thuận nhượng "quyền khai thác" thị trường. Và nhìn ở một góc độ nào đó, quyền khai thác nầy cũng không phải là quyền khai thác “chính danh” (chữ của tui thôi nhe) vì cái quyền nầy không phải là cái quyền thật sự, mà chỉ là “ý muốn tham gia thị trường”. Khó vô cùng khi cố gắng đem ra xử hay tính toán giá cả của cái ý muốn tham gia thị trường. Không có ai “sở hữu” cái ý muốn tham gia thị trường của ai.

Nói bình dân, là
- “Thằng A: heh, heh, tao đi về nhà, không chơi nữa; đứa nào thích cho tao vài chục phần trăm trong công ty của nó là chuyện của nó; không có ai phạm luật gì hết khi tao nghỉ chơi là vì tao không thích chơi nữa được không; không có mua bán gì ở đây; không có tài sản cứng, tài sản mềm gì được chuyển giao ở đây !”
- “Thằng B: heh, heh, nó đi về nhà, không thích chơi, đem đồ chơi của nó về, là chuyện của nó; Tao ở lại chơi là chuyện của tao không có liên quan đến nó. Tao cho nó tiền là chuyện của tao, từ tiền túi của tao; tao không mua gì từ nó; tao cũng chẳng nhận được cái gì từ nó; nó nợ ai thì đòi nó chứ sao đòi tao.”

PS.
- Nhiều quốc gia khác vừa mới trải nghiệm mô hình kinh doanh chia xẻ kiểu Uber/Lyft/Didi-Chuxing/99, họ không “giật mình” vì họ có đủ các nền tảng/cơ sở để hấp thụ hình thức kinh doanh mới nầy một cách trơn tru. Nền tảng/Cơ Sở gì?
- Các cá nhân độc lập cần cân đong chi phí cơ hội và lợi ích đạt được khi quyết định tham gia chuỗi cung ứng nầy;
- Nguyên do của sự "bực bội" hiện nay ở các xứ sở Đông Nam Á sau khi Uber rút khỏi thị trường Đông Nam Á không khó để hiểu. Nếu người ta tỉnh táo hơn thì sẽ dễ dàng thấy hướng giải quyết vấn đề (và đương nhiên không phải ai cũng hài lòng). Sau đó người ta sẽ ngộ được nhiều điều hơn và biết họ sẽ phải làm gì khi những thứ khác sẽ đến.

Ở các phiên tòa xử các vụ kiện độc quyền, nếu dùng thị phần để quở là độc quyền, thì bên Nguyên (Plaintiff) chịu trách nhiệm trình bằng chứng thị phần chứ không phải bên Bị (Defendant) (vì lý do cực đơn giản là ... !). Sau đó, bên Bị sẽ tìm cách bác bỏ bên Nguyên: 1) Tìm cách chứng minh rằng kết quả tính của bên Nguyên là sai mà cũng không cần đưa kết quả của họ, 2) Ngay cả khi bên Nguyên đúng, tìm cách chứng minh người hưởng lợi không phải là bên Bị, 3) Ngay cả khi mà bên Nguyên đúng, người hưởng lợi là bên Bị, tìm cách chứng minh luật hiện hành không áp dụng ở đây …

Những biện minh giả thuyết vừa nói có thể xảy ra trong các phiên tòa xử ở các quốc gia tiên tiến. Lúc nầy, khả năng thắng của bên Bị là lớn, vì như đã nói khi mô hình chia-xẻ-đi-ké được vận hành, chưa có luật kinh doanh nào bị phá, chưa có phần tử nào độc quyền, chưa có thuế bị thất thu, …

Kết Luận

Các công ty điều độ (được bàn ở trên) xây dựng mô hình kinh doanh dùng các phương tiện thông tin vô tuyến và các phần mềm điều độ để phát hiện thúc đẩy các phần tử độc lập tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ vận tải hành khách lúc nầy.

Khảo sát mô hình của họ để biết và hiểu thêm về những lợi ích hay thiệt hại mà mô hình kinh doanh nầy đem lại. Khảo sát để biết các tương tác “Nguyên Nhân và Hiệu Quả” (Cause and Effect) đích thực, hiểu rõ những “Tương Quan Mạnh” (Strong Correlation) để người ta có thể tác động đến những Nguyên Nhân Đích Thực (True Causes) nhằm gây ra Hiệu Quả rộng lớn nhất. (Hmm, mấy cái nầy chỉ là những nguyên tắc cơ bản và thông thường trong quản lý … mọi thứ !)

Cái cứu cánh là nhu cầu của khách hàng sẽ được đáp ứng với chi phí (thời gian+tiền bạc) thấp hơn, xã hội sẽ có nhiều công ăn việc làm hơn khi các phần tử nhàn rỗi được điều động, hoạt đông kinh tế sẽ trở nên hiệu quả hơn, … Phương tiện là các chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng của các công ty trên có thể không là duy nhất. Ai cũng có thể (lý thuyết) tạo ra/xây dựng một chuỗi cung ứng mới hữu hiệu hơn.

Nhiều quốc gia không bị xáo trộn bởi hình thức kinh doanh chia xẻ vì họ có sẵn những nền tảng căn cơ để xử lý hình thức kinh doanh nầy. Quốc gia nào chưa có những nền tảng nầy thì có lẽ phải học hỏi nhanh, và chuẩn bị để đón nhận những hình thức kinh doanh tương tự trong tương lai gần xa.

PS.

- Nhiều năm trước khi những công ty kiểu Uber ra đời đã có một mô hình kinh doanh khác:
- Có nhiều cái website quảng cáo một dịch vụ nhận đem chiếc xe của bạn đi cả ngàn dặm xa.
- Khách hàng lên đó cung cấp địa chỉ, số điện thoại, đi từ đâu đến đâu, xe gì, ngày đi/đến
- Chỉ trong vài phút cho tới vài ngày, hàng chục cú điện thoại/email ào ạt gởi đến cho biết giá dịch vụ, uy tín của họ ...
- Bạn sẽ lựa chọn một trong số những người cung cấp dịch vụ ...
- Có lẽ đây là mô hình gợi ý/tiền phong của cái phần mềm điều độ ngày nay của Uber ... Khi đó người ta đã gọi các website đó là những người tập họp (aggregator). Họ tạo ra một cái sân kết nối người cung cấp dịch vụ với người cần dịch vụ (nhờ internet mà cái sân nầy được biết đến bởi nhiều người). Khi người vận tải xe đến nhà bạn, họ sẽ đưa một hợp đồng riêng biệt đôi khi không liên quan đến cái website (!?) ...
- Ba cái chuyện Uber/Lyft/ ... không đáng quan tâm ở các quốc gia tiên tiến lúc nầy
- Người ta đang phải đau đầu suy nghĩ về xe tự hành kìa (cảnh báo mấy anh đang mon men chế xe tự hành Có cả một trời vấn đề đang phải đương đầu !). Nếu xe tự hành gây tai nạn:

Vòng Một:

+ Chủ xe chịu trách nhiệm? Tui đâu có lái làm sao tui chịu trách nhiệm được. Chính hãng chế tạo xe chịu trách nhiệm
+ Hãng chế tạo xe chịu trách nhiệm? Tui chế tạo xe, nhưng tui mua phần mềm kiểm soát từ hãng phần mềm; hãng sản xuất phần mềm chịu trách nhiệm
+ Hãng sản xuất phần mềm chịu trách nhiệm? Phần mềm của tui không có vấn đề gì. Tại vì đường xá không có vạch trắng phân chia, vạch phân chia mờ nhạt không đủ tiêu chuẩn, ... Vậy thì nhà nước chịu trách nhiệm
+ Nhà nước chịu trách nhiệm? Mấy thằng dân không chịu đóng thuế đủ nên tao không có tiền sơn vạch ngăn chia. Vậy thì mấy thằng dân chúng bây chịu trách nhiệm, đặc biệt là mấy thằng có tiền mua xe tự hành là đáng lẽ phải đóng nhiều nhất vì chính tụi bây là đứa cần có vạch phân chia nhất

Vòng Hai

+ Chủ xe: thì tui đã mua xe tốn nhiều tiền quá rồi tiền đâu đóng thuế cho nhà nước nữa
....



Edited by ntd 2018-04-10 8:45 AM
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2018-06-12 3:29 PM (#123847 - in reply to #123775)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Nhân đọc được mấy cái nầy:

http://www.thesaigontimes.vn/272260/Vi-mot-so-giao-dich-hang-hoa-ch...

“Vì một sở giao dịch hàng hóa cho Việt Nam: Tại sao không?”

“… Là một nước có đầy đủ năng lực cung ứng hàng hóa, đặc biệt là nông sản như lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, cao su, tôm cá... nhưng kinh nghiệm là hàng chưa chạm cửa sở giao dịch lại phải dội ra. Nhiều người đánh giá rằng đó là do nông dân và giới kinh doanh nông sản đã có thói quen mua bán manh mún, nhỏ lẻ và chưa chịu nổi cách giao dịch hiện đại …”

http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/san-giao-dich-hang-hoa-co-...

“… Về nguyên tắc, việc tham gia các công cụ phòng ngừa rủi ro là nhà đầu tư chuyển đổi rủi ro của mình cho người khác. Ở đây, để phát triển, không chỉ là người mua và người bán chuyển cho nhau, mà phải có sự tham gia của nhiều đối tượng, nhiều thành phần kinh tế, chẳng hạn các nhà đầu cơ (speculator), quỹ phòng hộ… để tạo ra thanh khoản cho thị trường.
Đây cũng là lý do cần phải có sự liên thông quốc tế để thu hút nhiều hơn các thành phần tham gia thị trường. Bên cạnh đó, với các mối liên kết quốc tế nhờ Sở Giao dịch hàng hóa, việc giao thương sẽ thuận tiện hơn cho các nhà xuất khẩu trong nước … “

Theo đó:
- VN là một nước có nhiều nông sản, nên cần có một sàn trao đổi hàng hóa
- Phòng ngừa rủi ro, là chuyển đổi rủi ro của mình cho người khác (Sao mà khôn đến vậy )
- Phải liên thông quốc tế, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài vào kinh doanh các sàn hàng hóa

Những Điều Căn Bản Cần Biết

- Các đại công ty như Cargill, Bunge, ADM, ... (kinh doanh sản phẩm nông nghiệp) sở hữu những kho dữ liệu khổng lồ từ sản lượng gieo trồng đến tiêu thụ
- Sản phẩm nông nghiệp không thể được ăn nhiều quá, không thể được trữ lâu quá, không thể giảm giá nhiều mà khiến người ta ăn thêm quá mức một lúc, không thể tăng giá nhiều mà khiến người ta tiếp tục tiêu thụ lâu dài, ...

Làm Nông Nghiệp Ở Mỹ

Người nông dân (bự bự, có cỡ vài ngàn mẫu đất) Mỹ làm ăn thế nầy:

- Đầu năm, họ tham khảo giá của thị trường tương lai của cái loại nông sản mà họ muốn gieo trồng. Giá sản phẩm được tính là giá ở cái tháng mà họ thu hoạch
- Họ ngồi xuống tính toán chi phí và thu hoạch để biết mức lời lỗ với số đất mà họ định canh tác
- Nếu lời thì lên kế hoạch tiến hành;
- Nếu lỗ, thì cắt giảm sản lượng gieo trồng (giảm cung), hay chuyển qua trồng món khác (cũng là giảm cung), hay nghĩ cách cắt giảm chi phí để có lời lại
- Họ sẽ mua hợp đồng tương lai cho cái sản lượng thu hoạch ước tính của họ. Chi phí mua hợp đồng cũng sẽ được tính vào chi phí sản xuất
- Tới lúc thu hoạch thì thu hoạch rồi giao cho người ta theo thỏa thuận trước là xong
- Hah, một chuyện đáng để ý là họ không có dám đánh cược ngược lại với thị trường. Họ cho rằng giá tương lai là cột mốc để hướng tới vì đối với họ làm ăn nông nghiệp không phải là đi buôn

Bàn Luận Của Tui

Được Mùa Mất Giá Được Giá Mất Mùa

Cái thực tế “được mùa mất giá được giá mất mùa” là chuyện thiên kinh địa nghĩa, vì nó chính là cái quan hệ căn bản giá cả/sản lượng. Chừng nào mà người ta chấp nhận cái thực tế “rộng lớn” (overall practice) như vậy thì người ta mới có thể đi tiếp được. Và kẻ nào mà tuyên bố rằng tui có cách làm cho bạn “được mùa mà vẫn được giá” là họ đang muốn bán cho bạn cái gì đó

Sàn Hàng Hóa Quốc Tế

Nước Mỹ là quốc gia hàng đầu về sản xuất nông nghiệp. Nước Anh/Pháp/... cũng là những quốc gia sản xuất nông nghiệp lớn từ những thế kỷ trước. Từ lâu lắm rồi họ hiểu thế nào là được mùa mất giá, được giá mất mùa, nên họ đã thực hiện nhiều biện pháp để giảm nhẹ tác động của chuyện tương quan ngược chiều giá/sản lượng; Một mặt là giảm nhẹ cường độ ảnh hưởng (cân bằng cung/cầu), mặt khác làm cho các cú sốc giá ít xảy ra hơn.

Một trong những biện pháp là thành lập sàn trao đổi hàng hóa. Theo thời gian, với sự tiến bộ của kỹ thuật, qui mô thị trường, … các sàn nhỏ được xáp nhập lại. Giờ đây thế giới chỉ còn vài sàn lớn.

Sàn Hàng Hóa … Việt Nam

Khi kinh tế VN được tự do hơn, các nông sản chính được sản xuất với số lượng lớn hơn nhiều trong đó đáng kể nhất là gạo (thứ hai thế giới), cà phê (thứ hai thế giới), và hồ tiêu (thứ nhất thế giới).

Khi đó, một suy nghĩ đến tự nhiên, nếu tui có thứ để bán thì tại sao tui không bán được cái giá mà tui có lời nhiều, hay cái giá mà tui muốn, hay cái gì gì đó …
Khi đó, các tính toán đến tự nhiên, nếu tui lập sàn mua bán hàng hóa thì sao …
Khi đó, các mong ước đến tự nhiên, nếu tui áp dụng công nghiệp 4.0 vào kinh doanh nông nghiệp thì sao …

Sàn mua bán hàng hóa ra đời đâu đó khoảng 10 năm, theo các mô hình khác nhau. Người ta tìm cách đưa vài sản phẩm lên sàn mua bán hàng hóa. Vài nghiên cứu học thuật, vài khảo sát thực tế hoặc về các mô hình của sàn VN, hoặc sàn thế giới, hoặc các nguyên nhân thất bại. Khởi đầu người ta nghiên cứu mô hình của nước ngoài. Sau đó họ sửa đổi cho phù hợp đặc điểm của VN. Cho đến nay, các sàn trao đổi hàng hóa vẫn chưa hoạt động được.

Các lý do được nêu ra:
- Không có hàng hóa lên sàn
- Không tiện lợi
- Không có thanh khoản
- Chưa phù hợp với hoàn cảnh VN
- Mô hình con gà và cái trứng nhưng không biết nên bắt đầu với con gà hay cái trứng …

Cho đến nay chưa có sàn trao đổi hàng hóa nào của VN mở cửa hoạt động thường xuyên. Và giờ đây các sàn được cho phép liên thông với nước ngoài, nhà nước cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia sàn.

Không Phải Con Gà Mà Cũng Không Phải Cái Trứng

- Mô hình sàn trao đổi hàng hóa VN vừa giống mà lại không giống sàn trao đổi ở Mỹ hay Anh
- Một số biến tấu của mô hình nước ngoài cho phù hợp với tình hình VN có lẽ làm cho sàn hàng hóa không còn hoạt động được.
- Cái căn bản của những cái căn bản của các sàn hàng hóa Mỹ/Anh/ ... không có trong đó.
- …

PS.
- Các nguyên tắc căn bản của sàn trao đổi hàng hóa kiểu Mỹ hay Anh cũng không có gì bí mật vì người ta đã nghiên cứu và công bố từ lâu rồi. Cơ chế vận hành của các sàn theo các nguyên tắc căn bản tuy có biến đổi ít nhiều theo thời gian nhưng nó vẫn còn đó
- Người ta có thể tạo một cái sàn trao đổi hàng hóa tùy thích và tùy theo tình hình địa phương, mà không cần phải sao chép cái mô hình của Mỹ/Anh/ ... Tuy nhiên, 1) nó có thể hoạt động được không còn chưa biết, 2) nó sẽ hoạt động được lâu dài hay chốc lát, 3) nó có thể xử lý được trong những tình huống đặc biệt hay không,
- Có những điều sàn trao đổi hàng hóa ở Mỹ/Anh/... không thể làm được, hay không bảo đảm kết quả theo kiểu nầy kiểu nọ. (Nó không là liều thuốc vạn năng giải quyết những trục trặc do chính sách kinh tế vĩ mô gây ra)
- Đừng lầm lẫn hiệu quả chính của sàn trao đổi hàng hóa ở Mỹ/Anh/ ... với các ảnh hưởng lan tỏa/không trực tiếp nhờ hiệu quả hoạt động của sàn (đừng lấy chính làm phụ, phụ làm chính !)
- Người mua hợp đồng tương lai của sàn trao đổi hàng hóa Mỹ/Anh/ ... không nhất thiết sẽ không chịu lỗ lã trong chuyện mua bán hàng hóa

Mẹ Của Tất Cả

- ……

Kết Luận

Để cho một sàn trao đổi hàng hóa hoạt động được, nó cần phải có những điều kiện nhất định. Căn bản nhất vẫn là cái cơ chế nền tảng. Vì nó là nền tảng của cái bộ máy khổng lồ chứa đầy những món hào nhoáng, nên đôi khi cái nền tảng bị nhạt nhòa phủ lấp không còn thấy được, hay bị quên đi.

Nhớ rằng sàn trao đổi hàng hóa là dùng hàng hóa thông thường trong cuộc sống làm món trao đổi - sẽ ảnh hưởng thân thiết đến cơm áo gạo tiền hàng ngày của xã hội.

Sàn trao đổi hàng hóa không giống như sàn mua bán chứng khoán, không giống như cái chợ thôn quê, không giống như một cái siêu thị thành phố, …

Kinh tế nông nghiệp có những qui luật đặc thù không nên quên.

Sàn trao đổi hàng hóa Mỹ/Anh/... chỉ có thể làm được một số chuyện nhất định mà chúng được lập ra để làm.


Edited by ntd 2018-06-25 1:09 AM
Top of the page Bottom of the page
ntd
Posted 2018-07-11 5:29 PM (#123864 - in reply to #123775)
Subject: RE: Linh tinh


Extreme Veteran

Posts: 386
100100100252525
Nhân đọc được cái nầy:

https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/4-0-sau-canh-cu...

“ … Không ồn ào như các cuộc bàn luận về lý thuyết, công nghiệp 4.0 đang chuyển động âm thầm sau cánh cửa các nhà máy cơ khí Việt Nam. …”

https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/mo-bong-bong-kh...

“Hai ví dụ trong ngành dệt may là trường hợp không hiếm. Theo đó, ngày càng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn hiện đại hóa các nhà máy sản xuất bằng chuyển đổi số nhưng đứng giữa một loạt khó khăn không biết bắt đầu từ đâu.”

Theo đó:
- Các doanh nghiệp VN đang tin rằng mình đang tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đang mua và lắp những máy móc tự động …


Vài Khái Niệm Căn Bản

- Công Nghệ (Technology): một cách thức để làm cái gì đó. Ví dụ: công nghệ in 3 chiều, công nghệ thông tin vô tuyến, công nghệ số, công nghệ điều khiển tự động, …
- Công Nghiệp (Industry): một nền sản xuất trong một lãnh vực nào đó áp dụng nhiều công nghệ khác nhau. Ví dụ: công nghiệp sản xuất xe hơi, áp dụng những thành tựu mới nhất của công nghệ thông tin viễn thông để trang bị hệ thống định vị địa cầu trên xe, những thành tựu mới nhất của công nghệ cơ điện để sản xuất xe điện-xăng (hybrid), …
- Thay Đổi Chiến Lược (Strategic Change): Sự thay đổi có tính cách chiến lược như xây dựng nhà máy mới, di dời nhà máy cũ, thiết lập mạng phân phối, thay đổi hệ thống máy móc,
- Thay Đổi Cấu Trúc (Structural Change): Sự thay đổi căn cơ nền tảng liên quan đến các yếu tố vĩ mô; Ví dụ: chuyển đổi hệ thống thông tin từ analog sang digital, chuyển đổi hệ thống giao dịch từ tiền mặt sang tiền điện tử, chuyển đổi từ không thuế tài sản, sang có thuế tài sản, …

Với nền sản xuất 3.0, các hệ thống sản xuất đã được vi tính hóa và tự động hóa. Các phần tử trong hệ thống đã được trang bị các bộ não PLC (Programmable Logics Control) và các bộ phận cảm biến (Sensors) để có thể tự điều chỉnh và làm việc mà không cần bàn tay con người. Trong bao nhiêu năm người ta thu lượm số liệu, nhưng chủ yếu dùng chúng cho các mục tiêu nhìn lại. Các phần tử tương tác cục bộ và theo mệnh lệnh định sẵn.

Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 (CMCN) là một thay đổi chiến lược và cấu trúc từ nền sản xuất cũ sang một hình thức sản xuất mới tận dụng những tiến bộ công nghệ cũ và mới. Nền sản xuất 4.0 là kết hợp xử lý số liệu, tương tác thông tin, để trở nên thông minh hơn, (hmm, người ta vẫn còn chưa xác định được cái thông minh nầy sẽ như thế nào kia mà!)


Bàn Luận Của Tui

Chỉ bàn về hệ thống sản xuất chứ không bàn về thương mại điện tử hay giải trí, mạng xã hội.

Vẫn Còn Ở Phía Trước – Nguyên Tắc

Ở trên đã nói là các phần tử cần phải hành xử thông minh hơn trong công nghiệp 4.0. Tuy nhiên đến lúc nầy người ta vẫn chưa hiểu rõ “thông minh” như thế nào.

Các tập đoàn công nghệ lớn hàng đầu (technological power house) có lẽ vẫn đang nghiên cứu thế nào là “thông minh”. Họ sẽ phải nhìn lại hàng tỉ mẩu số liệu thu lượm trong quá khứ, phải dựng các mô hình về tương lai, phải so sánh với mô hình suy nghĩ của con người, phải …

Liệu rằng trong không gian tương tác đa chiều, khi mà hàng tỉ phần tử trong cùng hệ thống nói chuyện cùng lúc, khi mà năng lực tính toán của các thiết bị không kham nổi lượng số liệu khổng lồ chuyển tải tới cùng lúc, …

Hmm, cái giá của sự thông minh thật sự và hữu ích sẽ không rẻ tí nào.

Vẫn Còn Ở Phía Trước – Thỏa Thuận

Công nghiệp 4.0 sẽ phải lệ thuộc rất nhiều vào hệ thống thông tin vô tuyến thế hệ 5.0. Trong khi đó lúc nầy người ta vẫn còn chưa thống nhất tiêu chuẩn của hệ thống thông tin 5.0, ngoài vài điểm chính như 1) Nó phải có mặt khắp nơi, 2) Nó phải có tốc độ chuyển tải lớn hơn 10 Gbps (gigabits per second, gigabit mỗi giây), 3) Nó phải không bị trễ quá 2 – 5 ms, …

Vẫn Còn Ở Phía Trước – Thực Hành

Muốn có những thiết bị cho công nghiệp 4.0, thì người ta phải chế tạo các vi mạch cực nhanh, phải sử dụng những con chip siêu nhanh, và cho đến lúc nầy chỉ có vài tập đoàn chip hàng đầu vừa mới gởi các con chip cho các khách hàng “xài thử”. Xài thử có nghĩa là đo lường, thử nghiệm, thiết kế thử, … chứ vẫn chưa có máy mới 

Muốn cho những thiết bị cho công nghiệp 4.0 có thể thông tin nhanh thì người ta phải có mạng lưới thông tin nhanh. Lúc nầy thì các tập đoàn công nghệ mạng lưới (networking company) chỉ vừa mới hoàn tất thử nghiệm những mạng lưới như vậy. Họ có lẽ còn chưa có cả protocol cho các nhà chế tạo thiết bị thông tin dùng cho mạng của họ, huống chi là có các thiết bị đó.

Muốn có mạng thông tin 5.0, thì các công ty quản lý mạng cần phải có băng tần tần số cao (spectrum - dải sóng millimeter – tần số vài GHz, tới vài chục GHz). Ở các nước tiên tiến, không phải tất cả các nhà mạng có dải sóng nầy, đang trông chờ vào nhà nước tái phân bổ spectrum. Và ở dải sóng nầy, lại đụng vào dải tần số được phân bổ cho thông tin vệ tinh … Rồi còn phải nghiên cứu xem xét khả năng nhiễu sóng khi nhào vào vùng sóng đó …

Công ty quản lý mạng phải bỏ tiền mướn các nhà mạng lắp đặt cho họ. Đến lúc nầy thì … tiền còn chưa ra khỏi tủ két của họ nói chi là có mạng thông tin 5.0. Họ phải tính toán xem nên xây dựng mạng ở đâu trước, ở đâu sau. Tuy nhiên họ đang hợp đồng triển khai thử nghiệm (thử nghiệm bởi các công ty nhà mạng là một chuyện, thử thật sự ra các địa hình, thời tiết khác nhau là một chuyện khác …)

Hah, những thứ trên chỉ là cơ sở nền.

Rồi các đại công ty công nghệ sẽ phải nghiên cứu các giải pháp xử lý số liệu siêu nhanh, sẽ phải nghiên cứu phương pháp tính toán thích hợp (cloud computing hay edge computing), sẽ phải nghiên cứu phương pháp bảo vệ an toàn số liệu và an toàn thông tin, chống hack, …

Rồi các đại công ty thiết kế công nghiệp sẽ phải nghĩ ra các giải pháp công nghệ, nghiên cứu cấu trúc (architecture) của hệ thống thông tin tương lai, trình bày lời giải cho các khách hàng (mỗi khách hàng lại có nhu cầu riêng !). Phải xác định máy nào cần lên mạng, máy nào không; phải xác định quan hệ chủ tớ (master/slave), …

Rồi các công ty công nghiệp sẽ phải xem xét mình có nên chuyển đổi hay không; nếu chuyển đổi thì cái nào đổi cái nào không; rồi còn phải xem xét tiền đầu tư chuyển đổi có đáng hay không; nên chuyển đổi hay cứ tiếp tục sản xuất cho đến khi nhà máy hết hạn phải đóng cửa thì xây nhà máy mới, …

Rồi các cơ quan quản lý sẽ phải nghiên cứu những tiêu chuẩn an toàn để cấp phép (commission) cho các hệ thống sản xuất như vậy hoạt động. Trong thời buổi internet và vô tuyến, an toàn của hệ thống càng phải được chú trọng nhiều lần hơn nữa ...

PS.
- Hmm, với một ít thiết bị như hiện nay lên mạng, các giải pháp bảo vệ an toàn đã đôi khi không theo kịp kẻ trộm cắp. Khi hàng tỉ thiết bị lên mạng, …
- Khi phải chuyển đổi chiến lược hay cấu trúc, người ta không quyết định một cách vội vàng chỉ vì ...


Kết Luận

Nền sản xuất công nghiệp 0, 1, 2, 3, 4 cái gì thích hợp cho công việc gì thì dùng cái ấy. Cái gì tốt thì làm, cái gì có lợi thì làm. Nhưng cái tốt/cái lợi đó nên được hiểu rõ, nắm được thì mới có cơ may thu hồi được tiền đầu tư và có lãi.

Hầu như thế giới vẫn đang còn bở ngỡ với công nghiệp 4.0. Các quốc gia tiên tiến không lạ gì chuyện mạng lưới thông tin của các máy móc công nghiệp (họ bắt đầu có chúng từ những năm 60s - 70s (?), có mạng lưới số hóa từ những năm 80s - 90s thế kỷ trước (?)) CMCN 4.0 là sự thay đổi cấu trúc sản xuất, với qui mô, tầm cỡ, tốc độ khác trước. Đa số các mục tiêu vẫn còn trong giai đoạn khái niệm. Người ta đang ngồi lại bàn thảo các tiêu chuẩn cho hệ thống tương lai. Sẽ phải mất nhiều thời gian để các khái niệm biến thành hành động.

Hiện nay chưa có nơi nào trên thế giới bắt đầu xây dựng hệ thống sản xuất công nghiệp 4.0 vì các nền tảng như hệ thống thông tin 5G, máy móc xử lý số liệu thế hệ mới, hệ thống bảo mật an toàn khi cả tỉ thiết bị cùng thông tin, số liệu nào sẽ được sử dụng, … vẫn chưa có hay chưa được hiểu rõ hay chưa được kiểm nghiệm.

Người ta chỉ mới bắt đầu xây dựng thể chế cho hệ thống tương lai. Các công ty công nghiệp lớn không hay vội vã đổ hàng tỉ đô la ra cho các dự án chuyển đổi chiến lược hay chuyển đổi cấu trúc sản xuất mà không biết sẽ thu lãi được bao nhiêu.


PS.
- Trong cuộc CMCN 4.0 nầy, Trung Quốc có lẽ sẽ tham gia tích cực. Họ đang là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, tích lũy tư bản đủ nhiều để có thể tái đầu tư, là một thành viên tích cực đàm phán tiêu chuẩn mạng thông tin 5G, đang đầu tư lớn thành lập các nhà máy sản xuất vi mạch hiện đại, … Nếu họ đi tiên phong trong chuyển đổi sang nền công nghiệp 4.0, thì sẽ rất có lợi cho họ vì họ đã và đang là xưởng sản xuất cho thế giới
- Ở các quốc gia tiên tiến thì người ta có cách chuyển đổi một cách hệ thống mà không cần nhà nước nhúng tay vào trừ việc chuyển đổi có liên quan đến luật lệ, tài sản quốc gia




Edited by ntd 2018-07-11 11:31 PM
Top of the page Bottom of the page
Jump to page : 1
Now viewing page 1 [25 messages per page]
Printer friendly version
E-mail a link to this thread
Jump to forum :
Jump to forum :
Actions

Running MegaBBS ASP Forum Software v2.2
© 2003 PD9 Software